Khơi thông dòng vốn: Từ những nguồn lực chờ được đánh thức đến động lực tăng trưởng mới

Hồ Nga • 21/10/2026 - 15:04

Nền kinh tế Việt Nam đang vận hành trên một nền tảng nguồn lực ngày càng lớn.

Nền kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn tăng trưởng với nhu cầu đầu tư ngày càng lớn. Bài toán nguồn vốn không chỉ nằm ở khả năng huy động thêm nguồn lực mới, mà còn ở việc khai thác hiệu quả những nguồn lực đã có.

Có những nguồn lực đã được tích lũy nhưng chưa tìm được cơ hội đầu tư phù hợp, những dự án đã thu hút lượng vốn lớn nhưng chưa thể triển khai. Khoảng cách giữa nguồn vốn sẵn có và giá trị thực sự được tạo ra đang đặt ra yêu cầu tháo gỡ các điểm nghẽn, kết nối và đưa nguồn lực vào nền kinh tế.

Những nguồn lực đang chờ được đánh thức

Nhìn từ quy mô đầu tư thực tế, nền kinh tế Việt Nam đang vận hành trên một nền tảng nguồn lực ngày càng lớn.

Theo Cục Thống kê, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trong chín tháng đầu năm 2026 đạt hơn 3,1 triệu tỷ đồng, tăng 15,1% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực ngoài Nhà nước đóng góp gần 1,65 triệu tỷ đồng, chiếm 53%; khu vực Nhà nước đạt 931.000 tỷ đồng, chiếm 30%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 529.400 tỷ đồng, chiếm 17%.

Đáng chú ý, cả ba khu vực đều ghi nhận mức tăng mạnh so với cùng kỳ: Vốn khu vực Nhà nước tăng 17,3%, khu vực ngoài Nhà nước tăng 14% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 14,5%.

Cơ cấu này cho thấy hơn một nửa tổng vốn đầu tư thực hiện đến từ khu vực ngoài Nhà nước, nơi nguồn lực được hình thành từ tích lũy của doanh nghiệp, hộ kinh doanh, vốn tự có, vốn vay và nhiều hình thức huy động khác. Trong khi đó, nguồn vốn Nhà nước tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong phát triển kết cấu hạ tầng, còn khu vực đầu tư nước ngoài bổ sung nguồn lực cho sản xuất, công nghệ và kết nối chuỗi cung ứng.

Screenshot 2026-10-21 at 11.32.47
Nguồn tổng hợp

Tuy nhiên, những con số trên mới phản ánh lượng vốn đã được đưa vào đầu tư. Phía sau đó còn là nguồn lực tích lũy trong doanh nghiệp và dân cư.

Ở khu vực doanh nghiệp, nguồn lực còn nằm trong lợi nhuận tích lũy, tài sản hiện hữu, các dự án đầu tư đang chuẩn bị triển khai và khả năng huy động thêm vốn. Với khu vực dân cư, tiền tiết kiệm và tài sản tích lũy có thể được chuyển thành vốn đầu tư thông qua hệ thống tài chính hoặc hoạt động sản xuất, kinh doanh trực tiếp.

Dù vậy, những nguồn lực này không phải lúc nào cũng sẵn sàng chuyển hóa. Quyết định đưa vốn vào hoạt động còn phụ thuộc vào kỳ vọng lợi nhuận, mức độ rủi ro, môi trường kinh doanh và khả năng tìm kiếm cơ hội đầu tư phù hợp.

Một doanh nghiệp có thể sở hữu lượng tiền tích lũy lớn nhưng chưa mở rộng sản xuất nếu triển vọng đơn hàng chưa rõ ràng. Một nhà đầu tư có thể sẵn sàng góp vốn nhưng dự án chưa hoàn tất thủ tục. Một tài sản có giá trị lớn cũng chưa chắc trở thành nguồn lực tài chính có thể khai thác ngay nếu còn vướng mắc về pháp lý.

Ở một chiều khác, khả năng huy động vốn của nền kinh tế tiếp tục được mở rộng thông qua hệ thống ngân hàng, thị trường chứng khoán và các định chế tài chính.

Theo Cục Thống kê, tổng mức huy động vốn trên thị trường chứng khoán trong chín tháng đầu năm 2026 đạt 731.600 tỷ đồng, tăng 85,6% so với cùng kỳ.

Trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp, số liệu VIS Rating cho thấy giá trị phát hành trong quý III đạt khoảng 172.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, ngân hàng và bất động sản chiếm khoảng 92% giá trị phát hành.

Cơ cấu này phản ánh sự khác biệt trong khả năng tiếp cận các kênh huy động vốn giữa các doanh nghiệp.

Dòng vốn quốc tế cũng tiếp tục mở rộng. Trong chín tháng đầu năm 2026, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam đạt 50,36 tỷ USD, tăng 76,4% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn đăng ký cấp mới đạt 29,24 tỷ USD, vốn điều chỉnh tăng thêm đạt 14,15 tỷ USD và vốn góp, mua cổ phần đạt 6,97 tỷ USD. Đáng chú ý, vốn FDI thực hiện đạt hơn 21 tỷ USD, tăng 12,1%.

Những chỉ tiêu phản ánh hai giai đoạn khác nhau: Thu hút cam kết đầu tư và chuyển những cam kết ấy thành hoạt động thực tế.

Nhìn tổng thể có thể thấy khả năng đưa các nguồn lực ấy vào vận động vẫn phụ thuộc vào những điều kiện nằm ngoài bản thân dòng tiền.

Chính ở khoảng cách giữa khả năng huy động và năng lực triển khai, những điểm nghẽn bắt đầu bộc lộ.

Screenshot 2026-10-21 at 13.38.36
Ảnh minh hoạ

Điểm nghẽn trên hành trình chuyển hóa vốn

Một khoản vốn chỉ thực sự phát huy tác dụng khi được đưa vào những hoạt động có khả năng tạo ra giá trị. Trên hành trình đó, không ít nguồn lực bị giữ lại bởi những rào cản không xuất phát trực tiếp từ khả năng huy động tiền.

Đầu tư công là một trường hợp điển hình. Theo Bộ Tài chính, chín tháng đầu năm 2026, chi đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước đạt 657.500 tỷ đồng, tăng đáng kể so với cùng kỳ. Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công đạt 62,9% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, cao hơn khoảng 12,9 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.

Tiến độ giải ngân đã có sự cải thiện, song vẫn còn một phần kế hoạch vốn cần tiếp tục thực hiện trong những tháng cuối năm.

Chỉ một mắt xích chậm trễ cũng có thể ảnh hưởng đến tiến độ sử dụng vốn của cả dự án. Một tuyến đường chậm đưa vào khai thác có thể kéo dài thời gian kết nối các khu công nghiệp, cảng biển và trung tâm tiêu thụ. Một dự án năng lượng chậm tiến độ có thể ảnh hưởng đến kế hoạch mở rộng sản xuất của những doanh nghiệp cần nguồn cung điện ổn định.

Vì vậy, tháo gỡ điểm nghẽn trong đầu tư công không chỉ nhằm đẩy nhanh tiến độ chi tiêu ngân sách mà còn là sớm đưa công trình vào sử dụng, tạo điều kiện để các nguồn vốn khác phát huy hiệu quả.

Ở khu vực tư nhân, những điểm nghẽn tương tự có thể xuất hiện tại các dự án bất động sản, khu công nghiệp, thương mại và dịch vụ.

Thực tế tại TP.HCM cho thấy quy mô nguồn lực có thể bị ảnh hưởng bởi các vướng mắc kéo dài là rất lớn. Đến cuối tháng 4/2026, thành phố đã hoàn thành tháo gỡ hoặc có hướng xử lý đối với 838 công trình, dự án và khu đất tồn đọng, có tổng mức đầu tư trên 206.000 tỷ đồng, liên quan diện tích hơn 17.000ha.

Trong đó, 417 trường hợp đã hoàn thành tháo gỡ, 393 trường hợp cơ bản hoàn thành và 28 trường hợp đang tiếp tục thực hiện theo chỉ đạo, định hướng xử lý.

Những con số này cho thấy quy mô đáng kể của những dự án, tài sản và cơ hội đầu tư chịu tác động bởi các vướng mắc trong quá trình triển khai.

Khi một dự án đình trệ, nguồn lực bị ảnh hưởng không chỉ là số vốn chủ đầu tư đã bỏ ra. Đất đai chưa được khai thác theo mục tiêu đầu tư, công trình dở dang chưa tạo ra doanh thu, trong khi chi phí vốn và các nghĩa vụ tài chính có thể tiếp tục phát sinh.

Sự đình trệ còn ảnh hưởng đến những doanh nghiệp liên quan trong chuỗi hoạt động đầu tư, từ xây dựng, vật liệu, thiết bị đến các dịch vụ hỗ trợ.

Ở chiều ngược lại, khi vướng mắc được tháo gỡ, giá trị kinh tế không chỉ nằm ở việc một dự án được phép tiếp tục triển khai. Khả năng huy động thêm vốn, ký kết hợp đồng, tổ chức thi công và đưa tài sản vào khai thác cũng được mở ra. Từ quyết định tháo gỡ đến hiệu quả kinh tế thực tế vẫn cần một quá trình tổ chức thực hiện.

Một điểm nghẽn khác nằm ngay trong hoạt động tài chính của doanh nghiệp.

Với những doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất dài, tốc độ thu hồi tiền chậm hơn nhu cầu thanh toán cho nguyên liệu, nhân công và vận hành, doanh nghiệp có thể phải vay thêm vốn dù doanh thu vẫn tăng trưởng.

Trong trường hợp này, nguồn lực không nhất thiết thiếu về quy mô mà đang bị hạn chế về tốc độ quay vòng. Cải thiện quản trị công nợ, rút ngắn thời gian thu hồi tiền, xử lý hàng tồn kho và nâng cao hiệu quả khai thác tài sản có thể giúp doanh nghiệp giải phóng một phần nguồn vốn đang nằm trong chính hoạt động của mình.

Trong bối cảnh đó, các giải pháp giảm chi phí vốn cũng có ý nghĩa hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Ngày 19/10, Ngân hàng Nhà nước họp bàn, yêu cầu giảm lãi suất huy động đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, đồng thời tập trung giảm lãi suất cho vay đối với sản xuất, kinh doanh và những lĩnh vực ưu tiên.

Tuy nhiên, giảm lãi suất không thể thay thế việc tháo gỡ thủ tục đầu tư, hoàn thiện pháp lý dự án hoặc cải thiện năng lực tài chính của bên vay. Một dự án chưa đủ điều kiện triển khai sẽ không thể chỉ nhờ lãi suất thấp hơn mà lập tức hấp thụ được vốn. Tương tự, một doanh nghiệp thiếu đơn hàng hoặc chưa xác định được thị trường tiêu thụ có thể vẫn thận trọng trước quyết định mở rộng đầu tư.

Nhìn từ những trường hợp này, điểm nghẽn của dòng vốn không nằm ở một khâu riêng lẻ mà có thể xuất hiện trong quá trình hình thành dự án, huy động tài chính, tổ chức thực hiện, khai thác tài sản hoặc tiêu thụ sản phẩm.

Tháo gỡ được những rào cản ấy mới tạo điều kiện để nguồn vốn đang tồn tại trong nền kinh tế được chuyển hóa thành hoạt động đầu tư và sản xuất thực chất.

Screenshot 2026-10-21 at 13.40.19
Ảnh minh hoạ

Kết nối nguồn lực, mở rộng không gian tăng trưởng

Trong một nền kinh tế có nhu cầu đầu tư ngày càng lớn, không một kênh tài chính riêng lẻ nào có thể đáp ứng hiệu quả mọi yêu cầu về quy mô, kỳ hạn và mức độ rủi ro. Điều quan trọng không chỉ là phát triển từng nguồn vốn, mà còn tạo điều kiện để chúng bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau.

Trước hết là mối quan hệ giữa nguồn lực đầu tư hạ tầng của Nhà nước và vốn tư nhân.

Nguồn lực Nhà nước có vai trò quan trọng trong phát triển những công trình hạ tầng thiết yếu, đặc biệt ở các lĩnh vực cần vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi dài và có tác động lan tỏa đến nhiều ngành kinh tế.

Khi một tuyến giao thông, hệ thống cảng, công trình năng lượng hoặc hạ tầng đô thị được hoàn thiện, cơ hội đầu tư không chỉ xuất hiện ở chính công trình đó. Các doanh nghiệp sản xuất có thể mở rộng nhà máy, doanh nghiệp logistics đầu tư kho bãi và phương tiện vận chuyển, trong khi hoạt động thương mại, dịch vụ có thêm điều kiện phát triển.

Một ví dụ là Cảng hàng không quốc tế Long Thành, với tổng mức đầu tư dự kiến của toàn dự án khoảng 16 tỷ USD. Khi sân bay đi vào khai thác cùng hệ thống giao thông kết nối, khu vực xung quanh sẽ có thêm điều kiện phát triển. Đáng chú ý, bản thân dự án Long Thành cũng cho thấy sự kết hợp của nhiều nguồn tài trợ.

Như vậy, một dự án hạ tầng quy mô lớn có sự tham gia và dẫn dắt của nguồn lực Nhà nước vừa có thể huy động các kênh tài chính khác nhau, vừa tạo nền tảng thu hút những khoản đầu tư tiếp theo từ khu vực tư nhân.

Tuy nhiên, hiệu ứng này không tự động hình thành. Nó phụ thuộc vào chất lượng quy hoạch, tiến độ thực hiện, khả năng kết nối giữa các công trình và nhu cầu phát triển thực tế của từng khu vực. Một dự án hạ tầng chỉ thực sự tạo ra động lực tăng trưởng khi được khai thác hiệu quả và trở thành điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh tế mới.

9(2).jpg
Khi sân bay đi vào khai thác cùng hệ thống giao thông kết nối, khu vực xung quanh sẽ có thêm điều kiện phát triển

Mối quan hệ thứ hai là sự bổ sung giữa tín dụng ngân hàng và thị trường vốn.

Tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng trong đáp ứng nhu cầu vốn lưu động và tài trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh. Trong khi đó, thị trường cổ phiếu, trái phiếu và các hình thức đầu tư dài hạn có thể mở rộng lựa chọn tài chính cho những dự án cần nguồn vốn lớn và thời gian triển khai kéo dài.

Với doanh nghiệp, vấn đề không phải lựa chọn hoàn toàn giữa vốn vay và vốn chủ sở hữu, mà là xây dựng một cơ cấu tài trợ phù hợp.

Nguồn vốn tự có có thể tạo nền tảng cho dự án. Vốn vay bổ sung nguồn lực trong những giai đoạn cần thiết. Huy động cổ phần giúp mở rộng vốn chủ sở hữu và chia sẻ rủi ro đầu tư. Các công cụ nợ dài hạn, khi được sử dụng phù hợp, có thể giúp doanh nghiệp cân đối kỳ hạn tài trợ với thời gian thu hồi vốn.

Sự phối hợp này cũng góp phần giảm áp lực đặt lên hệ thống ngân hàng trong việc cung ứng vốn dài hạn cho toàn bộ nền kinh tế.

Một điểm gặp nhau khác nằm giữa vốn trong nước và vốn quốc tế.

Việt Nam đang thu hút lượng vốn đầu tư nước ngoài lớn, song tác động lan tỏa của dòng vốn này còn phụ thuộc vào khả năng kết nối với khu vực doanh nghiệp trong nước. Khi doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các nhà đầu tư nước ngoài, cơ hội không chỉ nằm ở những hợp đồng cung cấp sản phẩm và dịch vụ.

Bên cạnh FDI, các khoản vay quốc tế và nguồn tài chính phát triển cũng đang mở ra những phương thức huy động vốn mới cho doanh nghiệp Việt Nam.

Chẳng hạn, Ngân hàng Phương Đông (OCB) mới huy động 100 triệu USD từ IFC và 55 triệu USD từ DEG (Đức), hướng tới mở rộng tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt là doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ và các hoạt động kinh doanh bền vững.

Những trường hợp này cho thấy dòng vốn quốc tế không chỉ bổ sung nguồn tài trợ, mà còn có thể kết nối với những mục tiêu đầu tư cụ thể và các nhóm khách hàng cần được mở rộng khả năng tiếp cận vốn.

Tuy nhiên, để những nguồn tài chính như vậy phát huy hiệu quả, các tổ chức tiếp nhận vốn phải đáp ứng yêu cầu về quản trị, quản lý rủi ro, sử dụng vốn và theo dõi kết quả thực hiện.

Ở đây, nội lực doanh nghiệp trở thành điểm kết nối quan trọng.

Một doanh nghiệp có nền tảng tài chính lành mạnh, hoạt động kinh doanh hiệu quả và chiến lược đầu tư rõ ràng sẽ có điều kiện thuận lợi hơn để kết hợp nguồn vốn tích lũy với nguồn tài trợ bên ngoài.

Ngược lại, nếu năng lực thực thi hạn chế, dòng tiền thiếu ổn định hoặc dự án không có triển vọng thị trường, việc tiếp cận thêm nguồn vốn cũng khó bảo đảm hiệu quả đầu tư.

Điều này cho thấy khơi thông nguồn lực tài chính không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan điều hành và hệ thống cung ứng vốn. Doanh nghiệp cũng cần chủ động củng cố năng lực tài chính, nâng cao chất lượng quản trị và cải thiện hiệu quả sử dụng tài sản.

Một dự án được tháo gỡ pháp lý có thể mở ra cơ hội thu hút thêm vốn đầu tư. Một công trình hạ tầng hoàn thiện có thể tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng sản xuất. Một doanh nghiệp nâng cao năng lực tài chính có thể tiếp cận những nguồn vốn dài hạn trước đây nằm ngoài khả năng của mình.

Khi những chuyển động ấy gặp nhau, nguồn vốn không chỉ được giải phóng mà còn có thể tiếp tục tạo ra tài sản, năng lực sản xuất, doanh thu và những nguồn lực mới cho chu kỳ tăng trưởng tiếp theo.

Đây cũng là một trong những vấn đề trọng tâm của hội thảo “Tháo gỡ điểm nghẽn – Khơi thông nguồn lực – Thúc đẩy tăng trưởng” do Người Quan Sát phối hợp cùng Tạp chí Kinh tế Chứng khoán tổ chức ngày 22/10/2026.

“

Bài cùng tuyến nội dung

Bài 1: Hội thảo 'Tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực thúc đẩy tăng trưởng' sắp tổ chức tại Hà Nội - xem tại đây

Bài 2: Từ tháo gỡ điểm nghẽn đến khơi thông nguồn lực: Bài toán chuyển hóa tiềm năng, kích hoạt vòng quay tăng trưởng - xem tại đây

Bài 3: Khơi thông dòng vốn: Từ những nguồn lực chờ được đánh thức đến động lực tăng trưởng mới - xem tại đây

Bài 4: Tháo gỡ điểm nghẽn: Từ hàng nghìn dự án tồn đọng đến giải phóng nguồn lực, mở đường cho tăng trưởng - xem tại đây

Theo Kiến thức Đầu tư | 2026-10-21 13:43
https://dautu.kinhtechungkhoan.vn/khoi-thong-dong-von-tu-nhung-nguon-luc-cho-duoc-danh-thuc-den-dong-luc-tang-truong-moi-1471526.html
Đừng bỏ lỡ
    Đặc sắc
    Nổi bật Người quan sát
    Đọc tiếp
    Khơi thông dòng vốn: Từ những nguồn lực chờ được đánh thức đến động lực tăng trưởng mới
    POWERED BY ONECMS & INTECH