Tháo gỡ điểm nghẽn: Từ hàng nghìn dự án tồn đọng đến giải phóng nguồn lực, mở đường cho tăng trưởng
Hơn 4.600 dự án gặp khó khăn, vướng mắc được ghi nhận trên phạm vi cả nước, riêng TP.HCM, 1.338 dự án tồn đọng liên quan tổng giá trị đầu tư 658.000 tỷ đồng.
Trong khi nền kinh tế cần thêm nguồn lực để duy trì đà tăng trưởng, một phần không nhỏ nguồn lực hiện hữu lại chưa thể vận động đúng với tiềm năng. Những vướng mắc về pháp lý, đất đai, thủ tục đầu tư, cơ chế thanh toán hay trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan có thể khiến một dự án kéo dài qua nhiều năm, thậm chí qua nhiều thời kỳ pháp luật.
Vốn đã được rót vào, tài sản đã hình thành, song quá trình chuyển hóa những nguồn lực ấy thành sản phẩm, dịch vụ và công trình phục vụ nền kinh tế lại bị gián đoạn. Sự đình trệ còn có thể kéo theo chi phí tài chính, cơ hội kinh doanh bị bỏ lỡ và ảnh hưởng đến nhiều hoạt động kinh tế liên quan.
Bởi vậy, trong bài toán tăng trưởng, bên cạnh huy động thêm nguồn vốn mới, việc giải phóng những nguồn lực đang bị kìm giữ ngày càng mang ý nghĩa quan trọng.
Những nguồn lực nằm chờ phía sau các dự án tồn đọng
Quy mô của vấn đề phần nào được phản ánh qua Công điện số 58/CĐ-TTg ngày 22/8/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc khẩn trương cập nhật, rà soát, tổng hợp, phân loại và đề xuất giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài.
Theo số liệu trên Hệ thống 751, đến ngày 31/7/2026, cả nước ghi nhận 4.619 dự án, trường hợp đất đai có khó khăn, vướng mắc. Trong đó, 3.984 trường hợp đã được rà soát, phân loại, còn 635 trường hợp chưa hoàn thành việc phân loại.
Đằng sau con số này là những tình huống không giống nhau. Có dự án vướng về đất đai, có dự án gặp khó trong quá trình lựa chọn nhà đầu tư, có trường hợp phát sinh vấn đề từ nghĩa vụ tài chính hoặc những quyết định được ban hành trong các giai đoạn pháp luật trước đây.
Tại TP.HCM, quy mô nguồn lực gắn với các dự án tồn đọng được thể hiện rõ nét hơn. Tính đến đầu tháng 9/2026, thành phố ghi nhận 1.338 dự án, công trình và khu đất tồn đọng, kéo dài với tổng giá trị đầu tư 658.084 tỷ đồng và diện tích hơn 30.691ha.
Đáng chú ý, đến ngày 28/9/2026, thành phố đã hoàn tất tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho 669 dự án, tương đương 50% tổng số dự án được rà soát. Số còn lại đang tiếp tục được các sở, ngành xử lý theo thẩm quyền.
Những con số này phản ánh dư địa nguồn lực có thể được khai thác khi các dự án đủ điều kiện tiếp tục triển khai.
Cơ quan chức năng TP.HCM cũng đã yêu cầu các doanh nghiệp có dự án được tháo gỡ khẩn trương đẩy nhanh tiến độ thi công, sớm đưa công trình vào khai thác.
Yêu cầu ấy phản ánh một vấn đề quan trọng: Kết quả cuối cùng của công tác tháo gỡ không chỉ nằm ở số lượng hồ sơ được giải quyết, mà còn ở khả năng đưa dự án trở lại hoạt động thực tế.
Từ góc độ kinh tế, sự chậm trễ còn tạo ra những chi phí khó nhìn thấy ngay trong các bảng thống kê.
Một khu đất chưa được đưa vào sử dụng có thể đồng nghĩa với việc chậm hình thành nhà ở, cơ sở sản xuất hoặc dịch vụ. Một dự án hạ tầng chưa hoàn thành khiến lợi ích kết nối và khả năng thu hút đầu tư vào khu vực liên quan chưa được phát huy. Một doanh nghiệp chưa thể triển khai dự án có thể phải duy trì nguồn vốn, nhân sự và các chi phí chuẩn bị trong thời gian kéo dài.
Vì thế, tháo gỡ điểm nghẽn không đơn thuần là giải quyết những vấn đề tồn tại trong hồ sơ pháp lý mà còn là bài toán giảm chi phí cơ hội, khôi phục khả năng vận động của vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản trong toàn nền kinh tế.

Chính sách mở đường cho những nguồn lực bị kìm giữ
Trước yêu cầu giải phóng những nguồn lực đang bị kìm giữ, hàng loạt quyết sách và cơ chế mới đã được ban hành, hướng tới xử lý những vướng mắc kéo dài trong hoạt động đầu tư.
Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đặt ra yêu cầu hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng pháp luật và hiệu quả tổ chức thực hiện. Trong khi đó, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân nhấn mạnh việc cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, tháo gỡ các rào cản đối với hoạt động của doanh nghiệp.
Hai định hướng này gặp nhau ở một yêu cầu có ý nghĩa kinh tế trực tiếp: Thể chế không chỉ bảo đảm khuôn khổ quản lý mà còn phải tạo điều kiện để các nguồn lực được phân bổ, sử dụng và phát huy hiệu quả.
Trên nền tảng đó, năm 2026 ghi nhận những cơ chế cụ thể nhằm giải quyết các tồn tại kéo dài.
Ngày 24/4/2026, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 29/2026/QH16 về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 1/5/2026.
Tiếp đó, ngày 7/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 147/2026/NĐ-CP hướng dẫn thực hiện các cơ chế, chính sách đặc thù theo Nghị quyết 29.
Điểm đáng chú ý của cặp văn bản này nằm ở việc tạo cơ sở xử lý những tình huống pháp lý phức tạp, phát sinh qua nhiều thời kỳ mà việc áp dụng các quy định thông thường có thể gặp khó khăn.
Trong đó, Nghị định 147 hướng dẫn việc xử lý các dự án đã được cấp giấy chứng nhận không đúng quy định; việc tiếp tục giao đất, cho thuê đất đối với dự án có vi phạm về lựa chọn nhà đầu tư hoặc quản lý, sử dụng đất; và những dự án đầu tư trên khu đất đã bị Nhà nước thu hồi không thuộc trường hợp được phép thu hồi theo quy định pháp luật.
Đây đều là những tình huống có thể phát sinh từ các quyết định trong quá khứ, nhưng hệ quả tiếp tục ảnh hưởng đến khả năng triển khai dự án ở hiện tại. Vấn đề đặt ra không chỉ là xác định và xử lý sai phạm, mà còn phải tìm phương án khắc phục phù hợp nhằm chế để nguồn lực tiếp tục bị bỏ không hoặc sử dụng kém hiệu quả.
Một hướng xử lý khác được thể hiện tại Nghị quyết số 16/2026/NQ-CP ngày 7/4/2026 của Chính phủ, quy định cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với dự án đầu tư theo hình thức xây dựng – chuyển giao (BT).
Đối với loại hình này, những điểm nghẽn có thể xuất hiện ngay cả khi công trình đã được xây dựng, bởi các vấn đề liên quan đến hợp đồng, quỹ đất thanh toán, nghĩa vụ tài chính hoặc chi phí nhà đầu tư đã ứng trước để giải phóng mặt bằng.
Ví dụ một trường hợp điển hình cho tính chất phức tạp của những điểm nghẽn này là ba dự án BT do Công ty Cổ phần Tập đoàn Phúc Sơn thực hiện tại Khánh Hòa, gồm nút giao Ngọc Hội, đường vành đai kết nối nút giao Ngọc Hội và các tuyến đường, nút giao kết nối khu sân bay Nha Trang. Theo kết luận thanh tra trước đây, ba dự án có tổng mức đầu tư dự kiến hơn 3.280 tỷ đồng, gắn với phương án sử dụng quỹ đất tại sân bay Nha Trang cũ để thanh toán cho nhà đầu tư.
Sau nhiều năm triển khai, hàng nghìn tỷ đồng đã được doanh nghiệp rót vào, một số hạng mục đã được đưa vào khai thác tạm thời, nhưng các dự án vẫn chưa thể hoàn thành đồng bộ. Vướng mắc không chỉ nằm ở công tác giải phóng mặt bằng, mà còn liên quan đến việc quản lý, sử dụng đất quốc phòng, cơ chế thanh toán hợp đồng BT và những vấn đề pháp lý phát sinh từ các sai phạm đã được cơ quan có thẩm quyền xác định.
Sau khi Tòa án Quân sự Trung ương xét xử phúc thẩm vụ án liên quan vào tháng 7/2026, tỉnh Khánh Hòa tiếp tục rà soát toàn diện hồ sơ pháp lý để xây dựng phương án xử lý. Tại cuộc họp ngày 17/9/2026, lãnh đạo UBND tỉnh yêu cầu các cơ quan liên quan đánh giá khả năng áp dụng Nghị quyết 29/2026/QH16 của Quốc hội và Nghị quyết 16/2026/NQ-CP của Chính phủ, đồng thời đề xuất phương án tháo gỡ phù hợp để trình cấp có thẩm quyền xem xét.

Trường hợp này cho thấy việc giải phóng nguồn lực không chỉ là câu chuyện đưa công trường trở lại hoạt động. Với những dự án có lịch sử pháp lý phức tạp, quá trình tháo gỡ còn phải giải quyết đồng thời các vấn đề về đất đai, hợp đồng, nghĩa vụ tài chính và quyền lợi của các bên liên quan. Chỉ khi những nút thắt ấy được xử lý, nguồn lực đã đầu tư mới có cơ sở để tiếp tục phát huy giá trị.
Từ trường hợp cụ thể này có thể thấy, việc ban hành những cơ chế xử lý riêng cho từng nhóm vấn đề có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi sửa đổi một thủ tục. Các cơ chế mới tạo thêm cơ sở để cơ quan quản lý và các bên liên quan xác định hướng giải quyết đối với những trường hợp phức tạp, thay vì để dự án tiếp tục kéo dài trong tình trạng chưa rõ phương án xử lý.
Tuy nhiên, từ việc có cơ chế đến khi cơ chế phát huy hiệu quả vẫn là một hành trình đòi hỏi năng lực thực thi.
Công điện 58/CĐ-TTg đã đặt ra yêu cầu cập nhật, rà soát, phân loại và đề xuất giải pháp tháo gỡ đối với từng nhóm dự án tồn đọng. Việc phân loại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi không phải mọi vướng mắc đều có thể giải quyết bằng cùng một phương án.
Có những vấn đề thuộc thẩm quyền xử lý của địa phương hoặc bộ, ngành theo quy định hiện hành. Có những trường hợp cần hướng dẫn thống nhất trong áp dụng pháp luật. Cũng có những tình huống phải được xem xét trong khuôn khổ cơ chế, chính sách đặc thù.
Từ đó, bài toán tháo gỡ chuyển từ câu hỏi có chủ trương hay chưa sang những yêu cầu cụ thể hơn: Vướng mắc đã được nhận diện đúng hay chưa, cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết, trách nhiệm được phân định ra sao và tiến độ xử lý có được theo dõi đến cùng hay không.

Từ tháo gỡ những nút thắt cũ đến mở đường cho tăng trưởng mới
Tháo gỡ một dự án tồn đọng trước hết có ý nghĩa đối với chính dự án ấy. Nhưng tác động kinh tế có thể lan rộng hơn nhiều khi hoạt động đầu tư được khôi phục: Khi nguồn lực đã đầu tư được đưa trở lại vận động, những nguồn lực bổ sung cũng có thêm cơ hội tham gia.
Tuy nhiên, hiệu ứng ấy không xuất hiện chỉ nhờ một quyết định xử lý vướng mắc. Giữa việc hoàn tất thủ tục pháp lý và đưa dự án vào khai thác còn có nhiều điều kiện phải đáp ứng: Khả năng tài chính của nhà đầu tư, tiến độ giải phóng mặt bằng, phương án triển khai, nhu cầu thị trường và năng lực tổ chức thực hiện.
Bởi vậy, nếu chỉ đo kết quả tháo gỡ bằng số lượng dự án đã có hướng xử lý, bức tranh về hiệu quả kinh tế sẽ chưa đầy đủ. Những chỉ dấu quan trọng hơn cần được theo dõi là số dự án thực sự tái khởi động, giá trị đầu tư được triển khai tiếp, công trình hoàn thành và nguồn lực đất đai được đưa vào sử dụng.
Quan trọng hơn, khi những điểm nghẽn được tháo gỡ, dòng vốn được đưa trở lại hoạt động, đất đai và tài sản có cơ hội phát huy giá trị, đồng thời mở đường cho những nguồn lực mới tham gia. Đó cũng là lúc việc xử lý những tồn đọng riêng lẻ có thể chuyển hóa thành động lực tăng trưởng chung của nền kinh tế.
Những chuyển động chính sách, từ Nghị quyết 66, Nghị quyết 68 đến các cơ chế đặc thù xử lý dự án tồn đọng, đang đặt ra yêu cầu song hành giữa hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực thực thi. Một hệ thống quy định minh bạch, đồng bộ cần được tiếp nối bằng khả năng tổ chức thực hiện hiệu quả, để những vướng mắc được xử lý kịp thời và hạn chế phát sinh những điểm nghẽn mới.
Khi đó, tháo gỡ điểm nghẽn mới thực sự trở thành khơi thông nguồn lực, mở đường cho những động lực tăng trưởng mới.
Từ yêu cầu thực tiễn đó, hội thảo “Tháo gỡ điểm nghẽn - Khơi thông nguồn lực - Thúc đẩy tăng trưởng” do Người Quan Sát phối hợp cùng Tạp chí Kinh tế Chứng khoán tổ chức ngày 22/10/2026 sẽ là diễn đàn để các chuyên gia, nhà quản lý và đại diện doanh nghiệp cùng nhận diện những nút thắt còn tồn tại, trao đổi các giải pháp tháo gỡ và tìm kiếm hướng đi nhằm chuyển hóa những nguồn lực sẵn có thành động lực tăng trưởng thực chất, bền vững.
Bài cùng tuyến nội dungBài 1: Hội thảo "Tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực, thúc đẩy tăng trưởng" sắp tổ chức tại Hà Nội - xem tại đây
Bài 2: Từ tháo gỡ điểm nghẽn đến khơi thông nguồn lực: Bài toán chuyển hóa tiềm năng, kích hoạt vòng quay tăng trưởng - xem tại đây
Bài 3: Khơi thông dòng vốn: Từ những nguồn lực chờ được đánh thức đến động lực tăng trưởng mới - xem tại đây
Bài 4: Tháo gỡ điểm nghẽn: Từ hàng nghìn dự án tồn đọng đến giải phóng nguồn lực, mở đường cho tăng trưởng - xem tại đây