Góc nhìn

Từ tháo gỡ điểm nghẽn đến khơi thông nguồn lực: Bài toán chuyển hóa tiềm năng, kích hoạt vòng quay tăng trưởng

Hồ Nga • 16/10/2026 - 14:51

Khơi thông nguồn lực không chỉ là đưa vốn vào nền kinh tế mà còn tạo điều kiện để những nguồn lực ấy tiếp tục sinh ra giá trị và hình thành các chu kỳ tăng trưởng mới.

Nền kinh tế Việt Nam đang bước vào một giai đoạn tăng trưởng với nhu cầu huy động và sử dụng nguồn lực ngày càng lớn. Những dòng vốn đầu tư tiếp tục mở rộng, hàng loạt công trình hạ tầng được triển khai, trong khi nhiều dự án từng đình trệ đang đứng trước cơ hội được tháo gỡ.

Tuy nhiên, đằng sau những con số về quy mô vốn và tài sản là một câu hỏi lớn hơn: Làm thế nào để những nguồn lực ấy thực sự chuyển hóa thành năng lực sản xuất, việc làm, thu nhập và sức mua của nền kinh tế?

Bởi có vốn chưa đồng nghĩa với giải ngân được vốn. Có đất đai, dự án chưa đồng nghĩa với khả năng đưa tài sản vào khai thác. Ngay cả khi những vướng mắc pháp lý được tháo gỡ, một dự án vẫn cần dòng tiền, khả năng triển khai và thị trường tiêu thụ để tạo ra giá trị.

Bài toán tăng trưởng vì thế không chỉ nằm ở việc huy động thêm bao nhiêu nguồn lực, mà còn ở khả năng đưa những nguồn lực đã có vào vận động, tạo ra giá trị và tiếp tục tái tạo nguồn lực mới.

Ảnh minh hoạ
Ảnh minh hoạ
Screenshot 2026-10-16 at 14.27.00

Bức tranh kinh tế 9 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực. Theo số liệu của Cục Thống kê, tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 9,01% so với cùng kỳ, trong đó riêng quý III tăng 9,95%, cao hơn hai quý đầu năm.

Hoạt động đầu tư tiếp tục mở rộng. Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trong chín tháng đạt hơn 3,1 triệu tỷ đồng, tăng 15,1%. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện tại Việt Nam đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% và là mức cao nhất của cùng kỳ trong 5 năm gần đây.

Cùng với sự mở rộng của hoạt động đầu tư, các kênh huy động vốn cũng ghi nhận những chuyển động đáng chú ý. Tính đến ngày 28/9/2026, huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 9,78% so với cuối năm 2025, trong khi tăng trưởng tín dụng đạt 10,89%, thấp hơn mức 13,37% ghi nhận tại cùng thời điểm năm trước.

Ở một diễn biến khác, thị trường chứng khoán tiếp tục mở rộng vai trò huy động vốn. Tổng mức huy động vốn trên thị trường trong 9 tháng đầu năm đạt 731.600 tỷ đồng, tăng 85,6% so với cùng kỳ.

Ở phía thị trường, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt hơn 5,92 triệu tỷ đồng, tăng 13,4% so với cùng kỳ.

Những con số cho thấy hoạt động đầu tư, huy động vốn và tiêu dùng tiếp tục mở rộng. Tuy nhiên, sự gia tăng về quy mô chưa phản ánh đầy đủ hiệu quả phân bổ và khả năng hấp thụ nguồn lực giữa các khu vực của nền kinh tế.

Đầu tư công là một ví dụ. Theo Bộ Tài chính, đến hết tháng 9/2026, tổng chi đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước đạt 657.500 tỷ đồng, bằng 58,7% dự toán Quốc hội quyết định; tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công đạt 62,9% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao.

Tiến độ giải ngân đã có chuyển biến, nhưng khối lượng vốn cần tiếp tục thực hiện trong những tháng cuối năm vẫn rất lớn. Đằng sau tỷ lệ giải ngân là hàng loạt công đoạn liên quan đến chuẩn bị đầu tư, giải phóng mặt bằng, thủ tục, tổ chức thi công và năng lực thực hiện của từng chủ thể.

Ngay cả khi vốn được giải ngân, hiệu quả kinh tế còn phụ thuộc vào tiến độ hoàn thành và khả năng đưa hạ tầng vào khai thác. Một tuyến đường chỉ phát huy đầy đủ giá trị khi kết nối được với mạng lưới giao thông, khu công nghiệp, đô thị và các hoạt động kinh tế. Để những công trình hạ tầng thực sự mở ra không gian phát triển mới, còn cần sự tham gia của doanh nghiệp, dòng vốn đầu tư tiếp nối và nhu cầu thị trường.

Ở góc độ doanh nghiệp, bức tranh cũng cho thấy những chuyển động không đồng đều. Theo Cục Thống kê, trong 9 tháng đầu năm 2026, cả nước có hơn 223.900 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, giảm 3,2% so với cùng kỳ. Ở chiều ngược lại, có 172.000 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Riêng tháng 9, số doanh nghiệp thành lập mới giảm 31,1% so với cùng kỳ, trong khi số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể tăng tới 89,3%.

Dù vậy, triển vọng sản xuất vẫn ghi nhận những tín hiệu tích cực. Kết quả điều tra của Cục Thống kê cho thấy gần 80% doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý III/2026 tốt hơn hoặc ổn định so với quý trước. Tỷ lệ doanh nghiệp kỳ vọng hoạt động quý IV tốt hơn hoặc duy trì ổn định lên tới 83,9%.

Sự tương phản này phản ánh những trạng thái khác nhau của khu vực doanh nghiệp. Trong khi một bộ phận có điều kiện duy trì và mở rộng sản xuất, không ít doanh nghiệp vẫn phải thu hẹp hoạt động hoặc rời thị trường.

Điều đó cũng cho thấy, hạ tầng được mở rộng hay nguồn vốn được bổ sung mới chỉ tạo thêm điều kiện phát triển. Việc biến những cơ hội ấy thành doanh thu, lợi nhuận và các khoản đầu tư tiếp theo còn phụ thuộc vào sức khỏe tài chính, đơn hàng, chi phí sản xuất và triển vọng thị trường của từng doanh nghiệp.

Screenshot 2026-10-16 at 14.29.31

Nếu đầu tư công cho thấy bài toán chuyển hóa dòng vốn thành năng lực phát triển, những dự án tồn đọng lại phản ánh một khía cạnh khác: Nguồn lực đã được xác lập nhưng chưa thể phát huy đầy đủ giá trị.

Tại TP.HCM, theo báo cáo của UBND Thành phố, tính đến đầu tháng 9/2026, địa phương ghi nhận 1.338 dự án tồn đọng, kéo dài với tổng giá trị đầu tư 658.084 tỷ đồng, liên quan đến hơn 30.691ha đất. Tuy nhiên, đi sâu vào kết quả, trong số này, mới có 650 dự án đã được tháo gỡ vướng mắc, trong khi 688 dự án còn lại đã được các sở, ngành đề xuất phương án xử lý. Đáng chú ý, trong quá trình rà soát, thành phố tiếp tục cập nhật thêm 500 dự án mới vào danh sách theo dõi, bên cạnh 421 dự án chuyển tiếp từ giai đoạn trước.

Còn theo Bộ Tài chính, đến ngày 15/9/2026 cả nước có gần 4.700 dự án tồn đọng, trong đó hơn 3.400 dự án được báo cáo đã hoàn thành phân loại và xử lý, với tổng mức đầu tư hơn 2,5 triệu tỷ đồng.

Quy mô hàng trăm nghìn tỷ đồng vốn đầu tư và hàng chục nghìn hecta đất cho thấy nguồn lực liên quan đến các dự án tồn đọng là rất lớn. Những con số này cho thấy ngay trong quá trình tháo gỡ đã tồn tại nhiều cấp độ khác nhau. Và kể cả khi hoàn tất các thủ tục, việc đưa dự án vào triển khai, khai thác và tạo ra dòng tiền vẫn còn phụ thuộc vào năng lực tài chính của chủ đầu tư, tiến độ thực hiện và nhu cầu thị trường.

Một dự án bất động sản có thể được hoàn thiện thủ tục nhưng chưa chắc triển khai ngay nếu doanh nghiệp chưa thu xếp được vốn. Một khu công nghiệp có thể sở hữu quỹ đất lớn nhưng hiệu quả khai thác còn phụ thuộc vào hạ tầng, khả năng thu hút nhà đầu tư và nhu cầu mở rộng sản xuất.

Như vậy, nguồn lực không chỉ bị giới hạn bởi những điểm nghẽn riêng lẻ. Vấn đề còn nằm ở sự kết nối giữa các điều kiện để nguồn lực có thể vận động.

Dòng vốn cần gặp được dự án có khả năng triển khai. Dự án cần được hỗ trợ bởi hành lang pháp lý và năng lực thực thi. Sản phẩm, dịch vụ hình thành từ hoạt động đầu tư cần gặp được nhu cầu thực của thị trường.

Các mắt xích này tác động qua lại với nhau.

Khi sức mua không đáp ứng kỳ vọng, doanh nghiệp có thể trì hoãn đầu tư dù có cơ hội tiếp cận vốn. Khi dự án kéo dài, tài sản chưa tạo ra dòng tiền như dự kiến sẽ ảnh hưởng đến khả năng trả nợ và xoay vòng vốn. Khi hạ tầng thiếu kết nối, những nguồn lực đã bỏ ra có thể chưa phát huy hết hiệu quả.

Ở chiều ngược lại, một điểm nghẽn được giải quyết đúng chỗ có thể tạo điều kiện để nhiều nguồn lực khác cùng được kích hoạt.

Một dự án đủ điều kiện tiếp tục triển khai có thể tạo thêm nhu cầu về xây dựng, vật liệu, thiết bị, vận tải và lao động. Những hoạt động này mang lại đơn hàng, doanh thu cho các doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng, hình thành thu nhập cho người lao động và góp phần hỗ trợ tiêu dùng.

Khi dự án hoàn thành và được khai thác hiệu quả, dòng tiền tạo ra còn có thể tiếp tục phục vụ trả nợ, mở rộng sản xuất và những chu kỳ đầu tư tiếp theo.

Tuy nhiên, hiệu ứng lan tỏa ấy không diễn ra tự động. Nó phụ thuộc vào khả năng phối hợp giữa chính sách, vốn, doanh nghiệp và thị trường.

Screenshot 2026-10-16 at 14.30.31

Khơi thông một nguồn lực không đồng nghĩa với việc nguồn lực ấy chắc chắn tạo ra giá trị. Và cũng không phải mọi dự án được tháo gỡ đều có khả năng đóng góp như nhau cho tăng trưởng.

Một dự án có thể đã phù hợp với nhu cầu thị trường ở thời điểm được phê duyệt, nhưng sau nhiều năm đình trệ, các điều kiện kinh tế có thể đã thay đổi. Chi phí đầu tư tăng lên, nhu cầu tiêu dùng dịch chuyển, khả năng tài chính của doanh nghiệp và sức mua của thị trường cũng không còn như trước.

Bởi vậy, bên cạnh việc tháo gỡ các rào cản, một yêu cầu quan trọng là đánh giá lại hiệu quả sử dụng nguồn lực, khả năng triển khai và triển vọng khai thác thực tế. Nguồn vốn cần được phân bổ vào những hoạt động có khả năng tạo ra giá trị, thay vì chỉ tìm cách đưa mọi dự án trở lại vận hành bằng mọi giá.

Trong lĩnh vực bất động sản, mối quan hệ này thể hiện khá rõ. Việc tháo gỡ pháp lý có thể giúp dự án trở lại thị trường, nhưng khả năng tiêu thụ sản phẩm còn phụ thuộc vào giá bán, nhu cầu ở thực và sức mua của người dân.

Nếu nguồn cung tăng thêm nhưng sản phẩm không phù hợp với khả năng chi trả, dòng tiền có thể tiếp tục bị ứ đọng. Ngược lại, những dự án đáp ứng đúng nhu cầu có thể tạo điều kiện để dòng vốn quay trở lại doanh nghiệp, đồng thời kích hoạt hoạt động của các ngành xây dựng, vật liệu, nội thất, tài chính và dịch vụ.

Trong lĩnh vực sản xuất, khả năng tiếp cận tín dụng cũng mới chỉ là một điều kiện. Quyết định mở rộng đầu tư còn phụ thuộc vào đơn hàng, năng lực cạnh tranh, chi phí đầu vào và triển vọng tiêu thụ sản phẩm.

Điểm chung giữa các lĩnh vực là khả năng hấp thụ nguồn lực không chỉ nằm ở phía cung vốn, mà còn được quyết định bởi nhu cầu thực của nền kinh tế.

Khi một khoản đầu tư được triển khai hiệu quả, giá trị tạo ra không dừng ở công trình hay sản phẩm ban đầu. Doanh thu có thể trở thành nguồn trả nợ, lợi nhuận được giữ lại để tái đầu tư, hoạt động sản xuất tạo thêm việc làm và thu nhập, từ đó góp phần mở rộng nhu cầu thị trường.

Đó là quá trình nguồn lực được tái tạo và tiếp tục vận động qua nhiều chu kỳ kinh tế.

Ở quy mô lớn hơn, điều này đòi hỏi sự kết nối giữa các chính sách phát triển. Đầu tư công cần tạo hạ tầng và không gian phát triển cho khu vực tư nhân; thị trường tài chính cần phân bổ vốn đến những hoạt động có khả năng sử dụng hiệu quả; việc tháo gỡ pháp lý cần gắn với năng lực thực thi; còn sự mở rộng sản xuất phải có mối liên hệ với sức mua và thị trường tiêu thụ.

Khi những điều kiện ấy cùng được đáp ứng, hiệu quả của một nguồn lực có thể vượt ra ngoài phạm vi dự án hay doanh nghiệp trực tiếp sử dụng, tạo thêm cơ hội đầu tư, việc làm, thu nhập và những động lực tăng trưởng tiếp nối.

Từ góc nhìn đó, câu chuyện khơi thông nguồn lực cần được mở rộng từ việc xử lý từng dự án, từng thủ tục hay từng kênh vốn sang khả năng vận hành của cả một chuỗi hoạt động kinh tế.

Theo Kiến thức Đầu tư
https://dautu.kinhtechungkhoan.vn/tu-thao-go-diem-nghen-den-khoi-thong-nguon-luc-bai-toan-chuyen-hoa-tiem-nang-kich-hoat-vong-quay-tang-truong-1470890.html
Đừng bỏ lỡ
    Đặc sắc
    Nổi bật Người quan sát
    Đọc tiếp
    Từ tháo gỡ điểm nghẽn đến khơi thông nguồn lực: Bài toán chuyển hóa tiềm năng, kích hoạt vòng quay tăng trưởng
    POWERED BY ONECMS & INTECH