Không có giấy vay, người đàn ông vẫn phải trả 25 chỉ vàng cho vợ cũ vì một lời thừa nhận trước tòa
Tòa phúc thẩm xác định những lời trình bày trong vụ án trước là căn cứ để giữ nguyên nghĩa vụ trả 25 chỉ vàng 24K.
Theo Bản án số 227/2026/DS-PT ngày 17/3/2026, Tòa án nhân dân (TAND) tỉnh Cà Mau đã xét xử phúc thẩm vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn là bà Lâm H và bị đơn là ông Trần Việt H1.
Trước đó, Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau đã xét xử sơ thẩm và buộc ông H1 trả cho bà H 25 chỉ vàng 24K. Không đồng ý với phán quyết, ông H1 kháng cáo toàn bộ bản án.
Mượn 50 chỉ vàng nhưng không lập giấy tờ
Theo trình bày của phía nguyên đơn, khoảng cuối năm 2005, đầu năm 2006, ông Trần Việt H1 và bà Lâm H3 (khi đó là vợ chồng) mượn bà Lâm H 50 chỉ vàng 24K để mua vật liệu xây dựng nhà.
Do bà H là chị ruột của bà H3 nên khi cho mượn vàng, các bên không lập giấy tờ.
Sau khi ông H1 và bà H3 ly hôn, bà H chưa có nhu cầu sử dụng số vàng nên chưa yêu cầu hoàn trả.
Đến năm 2023, bà H3 khởi kiện ông H1 để yêu cầu chia tài sản chung sau ly hôn. Khi đó, bà H làm đơn yêu cầu ông H1 và bà H3 trả lại 50 chỉ vàng 24K.
Theo hồ sơ vụ án, ông H1 và bà H3 thống nhất khoản nợ 50 chỉ vàng và đồng ý mỗi người trả cho bà H 25 chỉ vàng. Tuy nhiên, bà H không tham gia phiên tòa lần thứ hai nên Tòa án đình chỉ đối với yêu cầu của bà.
Sau đó, bà H3 đã trả cho bà H 25 chỉ vàng. Phần còn lại 25 chỉ vàng do ông H1 chưa thanh toán.
Bà H tiếp tục yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 3, Cà Mau buộc ông H1 trả số vàng này.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông H1 phủ nhận việc vay vàng của bà H và không đồng ý trả 25 chỉ vàng.
Ngày 26/9/2025, Tòa án nhân dân khu vực 3, Cà Mau chấp nhận yêu cầu của bà H, buộc ông H1 trả 25 chỉ vàng 24K. Bản án cũng quyết định về lãi suất chậm trả, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 10/10/2025, ông H1 kháng cáo, cho rằng ông và bà H chưa từng ký kết hoặc thỏa thuận vay tài sản, ông không nhận bất kỳ khoản vàng nào từ bà H. Ông cũng cho rằng bà H không có giấy tờ chứng minh khoản nợ.

Tòa phúc thẩm căn cứ vào lời thừa nhận trước đó
Tại phiên phúc thẩm, ông H1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông cho rằng cấp sơ thẩm chưa đưa bà Lâm H3 tham gia tố tụng để làm rõ khoản nợ. Theo luật sư, không thể lấy nội dung các bản án đã đình chỉ yêu cầu của bà H để xác định ông H1 có nghĩa vụ trả nợ.
Luật sư cũng cho rằng trong vụ án ly hôn trước đó, ông H1 và bà H3 từng xác định không có nợ chung.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định, khi bà Lâm H3 khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung sau ly hôn vào năm 2023, bà Lâm H là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đã yêu cầu ông H1 cùng bà H3 trả 50 chỉ vàng 24K.
Đáng chú ý, tại phiên tòa sơ thẩm ngày 19/9/2023, dù ông H1 vắng mặt, luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông đã trình bày rằng trong thời gian chung sống, ông H1 và bà H3 có nợ bà H 5 lượng vàng 24K. Ông H1 thống nhất chia đôi khoản nợ, mỗi người trả 2,5 lượng vàng.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 14/3/2024, luật sư của ông H1 tiếp tục trình bày rằng cả ông H1 và bà H3 đều thừa nhận có khoản nợ 5 lượng vàng 24K của bà H. Do bà H vắng mặt không có lý do tại phiên tòa lần thứ hai, luật sư đề nghị đình chỉ yêu cầu của bà về việc đòi 50 chỉ vàng.
Hội đồng xét xử phúc thẩm cho rằng dù trong quá trình ông H1 và bà H3 ly hôn, hai bên từng xác định không có nợ chung, nhưng khi bà H3 khởi kiện yêu cầu chia tài sản sau ly hôn, cả ông H1 và bà H3 đều thừa nhận có khoản nợ 5 lượng vàng 24K đối với bà H.
Từ các chứng cứ và tình tiết này, Tòa án cấp phúc thẩm xác định cấp sơ thẩm có căn cứ khi chấp nhận yêu cầu của bà H và buộc ông H1 trả 25 chỉ vàng 24K.
Hội đồng xét xử vì vậy không chấp nhận kháng cáo của ông H1 và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Theo phán quyết, ông H1 phải trả bà H 25 chỉ vàng 24K. Ông H1 được miễn án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm do là người khuyết tật. Bà H không phải chịu án phí và được nhận lại khoản tạm ứng án phí 5,25 triệu đồng đã nộp.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 17/3/2026.
(Theo Bản án số 227/2026/DS-PT ngày 17/3/2026 của TAND tỉnh Cà Mau)