Việt Nam chi gần 400 tỷ USD nhập khẩu sau 8 tháng, Trung Quốc chiếm hơn 40%
8 tháng đầu năm 2026, Việt Nam nhập khẩu 395,3 tỷ USD hàng hóa, tăng 35,3% so với cùng kỳ năm trước. Riêng Trung Quốc cung cấp hơn 161,9 tỷ USD, chiếm gần 41% tổng kim ngạch và bỏ xa các thị trường còn lại.
Theo số liệu thống kê, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam trong 8 tháng đầu năm đạt 395,3 tỷ USD, tăng 35,3% so với cùng kỳ. Đáng chú ý, phần lớn hàng hóa nhập khẩu là máy móc, thiết bị, linh kiện và nguyên liệu phục vụ sản xuất, đặc biệt là các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và xuất khẩu.

Theo số liệu thống kê, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam trong 8 tháng đầu năm đạt 395,3 tỷ USD, tăng 35,3% so với cùng kỳ. Đáng chú ý, phần lớn hàng hóa nhập khẩu là máy móc, thiết bị, linh kiện và nguyên liệu phục vụ sản xuất, đặc biệt là các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và xuất khẩu.
Trung Quốc tiếp tục là nguồn cung lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch 161,9 tỷ USD, chiếm gần 41% tổng nhập khẩu. Con số này cao gấp 2,7 lần kim ngạch nhập khẩu từ thị trường đứng thứ hai là Hàn Quốc, với 60,1 tỷ USD.
Các nhóm hàng nhập khẩu chủ lực từ Trung Quốc đều là những đầu vào quan trọng của hoạt động sản xuất trong nước. Trong đó, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt gần 59,3 tỷ USD; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác hơn 30,5 tỷ USD.
Ngoài ra, Việt Nam còn nhập từ Trung Quốc 7,1 tỷ USD vải các loại, 5,6 tỷ USD điện thoại và linh kiện cùng khoảng 5,2 tỷ USD sản phẩm từ chất dẻo và chất dẻo nguyên liệu.
Cơ cấu này cho thấy Trung Quốc đang giữ vai trò quan trọng trong việc cung ứng nguyên liệu, linh kiện và thiết bị cho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Việt Nam, trong đó có các lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu.
Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản là những nguồn cung lớn tiếp theo
Sau Trung Quốc, nhóm thị trường Đông Bắc Á gồm Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc) và Nhật Bản tiếp tục là những nguồn cung lớn cho Việt Nam. Kim ngạch nhập khẩu từ ba thị trường này lần lượt đạt 60,1 tỷ USD, 33,5 tỷ USD và 18,1 tỷ USD trong 8 tháng.
Đây chủ yếu là các thị trường cung cấp máy móc, thiết bị, linh kiện điện tử và nguyên vật liệu phục vụ các tổ hợp sản xuất, xuất khẩu tại Việt Nam.
Hàn Quốc là một trong những đối tác nhập khẩu lớn nhất, với riêng nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt hơn 43,3 tỷ USD. Việt Nam cũng nhập từ thị trường này 3,33 tỷ USD máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng và 2,2 tỷ USD xăng dầu các loại.
Đối với Đài Loan, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện chiếm phần lớn kim ngạch nhập khẩu, đạt 26,8 tỷ USD trên tổng số 33,5 tỷ USD.
Trong khi đó, cơ cấu nhập khẩu từ Nhật Bản đa dạng hơn. Trong tổng kim ngạch 18,1 tỷ USD, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 6,7 tỷ USD, còn máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt 3,4 tỷ USD.
Mỹ là thị trường nhập khẩu lớn thứ 5 của Việt Nam với 15,4 tỷ USD. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu gồm máy móc, thiết bị công nghệ, nguyên liệu sản xuất và nông sản. Trong đó, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 4,6 tỷ USD; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng hơn 1,1 tỷ USD và bông các loại khoảng 1,3 tỷ USD.
ASEAN cũng đóng vai trò đáng kể trong chuỗi cung ứng của Việt Nam. Thái Lan, Malaysia, Indonesia và Singapore đều nằm trong nhóm 10 thị trường nhập khẩu lớn nhất.
Thái Lan mang về 11 tỷ USD kim ngạch nhập khẩu, chủ yếu là hàng hóa thuộc nhóm công nghiệp chế biến, chế tạo và nguyên liệu phục vụ sản xuất, bên cạnh ô tô, linh kiện, hàng tiêu dùng và thực phẩm.
Malaysia và Indonesia lần lượt đạt 10,3 tỷ USD và 8,9 tỷ USD, tập trung vào nguyên liệu phục vụ sản xuất công nghiệp và năng lượng.
Singapore đạt 6,1 tỷ USD, trong đó xăng dầu là một trong những mặt hàng có kim ngạch lớn. Australia đứng thứ 10 với 6 tỷ USD, chủ yếu là than đá, riêng mặt hàng này đạt khoảng 2,4 tỷ USD.
Ngoài nhóm 10 thị trường lớn nhất, Việt Nam còn nhập khẩu 5,4 tỷ USD hàng hóa từ Ấn Độ, 4,4 tỷ USD từ Campuchia, 3,8 tỷ USD từ Brazil, 3,2 tỷ USD từ Đức và 2,8 tỷ USD từ Argentina.
Trong đó, Campuchia chủ yếu cung cấp nông sản, đặc biệt là hạt điều. Từ Ấn Độ và Đức, Việt Nam nhập nhiều sắt thép, kim loại, máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng. Brazil và Argentina là nguồn cung đáng kể về ngô, đậu tương, nguyên liệu và thức ăn chăn nuôi.
Quy mô nhập khẩu tăng mạnh cùng với đà tăng trưởng xuất khẩu cho thấy hoạt động sản xuất trong nước đang cần lượng lớn máy móc, linh kiện và nguyên liệu đầu vào. Tuy nhiên, việc Trung Quốc và các thị trường Đông Bắc Á chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn cung cũng cho thấy mức độ phụ thuộc đáng kể của ngành sản xuất Việt Nam vào các thị trường này.
Đây vừa là lợi thế về khả năng tiếp cận nguồn nguyên liệu, thiết bị và linh kiện, vừa đặt ra yêu cầu đa dạng hóa nguồn cung và nâng cao năng lực sản xuất trong nước để giảm rủi ro khi chuỗi cung ứng bên ngoài biến động.