Vĩ mô

Quyết định mỗi hộ gia đình được nhận tới 1.350.000 đồng/tháng, hiệu lực từ 5/10: Điều kiện để hưởng cụ thể ra sao?

Mai Anh 18/09/2026 23:30

Từ 5/10/2026, một chính sách trợ giúp xã hội mới có thể mang đến khoản hỗ trợ 810.000-1.350.000 đồng/tháng cho mỗi hộ gia đình.

package-media-39647649785554926674598-56526885695736110391048-1766385506860-1766385507725437875134.webp
Quyết định mỗi hộ gia đình được nhận tới 1.350.000 đồng/tháng, hiệu lực từ 5/10

Từ ngày 5/10/2026, hộ gia đình, cá nhân nhận chăm sóc, nuôi dưỡng người khuyết tật đặc biệt nặng được hỗ trợ kinh phí theo hệ số mới, mức cao nhất 1.350.000 đồng/tháng.

Hộ gia đình nhận chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng được hỗ trợ đến 1.350.000 đồng/tháng

Theo điểm d khoản 2 Điều 17 Nghị định 335/2026/NĐ-CP, hộ gia đình, cá nhân nhận chăm sóc, nuôi dưỡng người khuyết tật đặc biệt nặng được hỗ trợ kinh phí nhận chăm sóc, nuôi dưỡng theo các mức hệ số khác nhau.

Cụ thể, trường hợp nhận chăm sóc, nuôi dưỡng mỗi một người khuyết tật đặc biệt nặng được áp dụng hệ số 1,5. Trong khi đó, trường hợp nhận chăm sóc, nuôi dưỡng mỗi một trẻ em khuyết tật đặc biệt nặng được áp dụng hệ số 2,5.

Nghị định 335/2026/NĐ-CP đồng thời quy định tại khoản 2 Điều 4 mức chuẩn trợ giúp xã hội là 540.000 đồng/tháng.

Từ mức chuẩn này, khoản hỗ trợ được xác định theo hệ số tương ứng. Theo đó, với hệ số 1,5, hộ gia đình, cá nhân nhận chăm sóc, nuôi dưỡng mỗi một người khuyết tật đặc biệt nặng được nhận 810.000 đồng/tháng.

Đối với trường hợp nhận chăm sóc, nuôi dưỡng mỗi một trẻ em khuyết tật đặc biệt nặng, hệ số 2,5 tương ứng với mức hỗ trợ 1.350.000 đồng/tháng.

Như vậy, từ ngày 5/10/2026, mức hỗ trợ dành cho hộ gia đình, cá nhân nhận chăm sóc, nuôi dưỡng người khuyết tật đặc biệt nặng dao động từ 810.000 đồng đến 1.350.000 đồng/tháng, tùy thuộc đối tượng được nhận chăm sóc.

Đáng lưu ý, đối với hộ gia đình thuộc diện này đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Nghị định 20/2021/NĐ-CP, mức trợ cấp mới được áp dụng từ ngày 1/7/2026.

Những ai được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội?

Bên cạnh chính sách hỗ trợ đối với hộ gia đình, cá nhân nhận chăm sóc, nuôi dưỡng người khuyết tật đặc biệt nặng, Điều 21 Nghị định 335/2026/NĐ-CP cũng quy định các nhóm đối tượng được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội.

Nhóm thứ nhất là đối tượng bảo trợ xã hội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Nhóm này bao gồm các đối tượng quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 5 Nghị định 335/2026/NĐ-CP; người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống tại cộng đồng do có hoàn cảnh khó khăn hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này không có điều kiện để thực hiện nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng.

Ngoài ra, trẻ em khuyết tật và người khuyết tật thuộc diện được chăm sóc, nuôi dưỡng trong cơ sở trợ giúp xã hội theo quy định của pháp luật về người khuyết tật cũng thuộc nhóm này.

Nhóm thứ hai là các đối tượng cần được bảo vệ khẩn cấp. Theo quy định, đây là nạn nhân của bạo lực gia đình; nạn nhân bị ngược đãi, bị bỏ rơi hoặc bị xâm hại tình dục, thân thể; nạn nhân bị mua bán hoặc bị cưỡng bức lao động.

Trẻ em, người lang thang xin ăn trong thời gian chờ đưa về nơi cư trú cũng thuộc diện được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội. Bên cạnh đó, các đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp khác phát sinh đột xuất theo quyết định của Chủ tịch UBND cấp tỉnh trong phạm vi được HĐND cấp tỉnh phân cấp cũng thuộc diện này.

Đối với các trường hợp cần bảo vệ khẩn cấp quy định tại các điểm a, b và c khoản 2 Điều 21 Nghị định 335/2026/NĐ-CP, thời gian chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội tối đa không quá 3 tháng.

Nếu quá thời hạn 3 tháng mà không thể đưa đối tượng trở về gia đình, cộng đồng, người đứng đầu cơ sở trợ giúp xã hội sẽ xem xét, quyết định giải pháp phù hợp.

Ngoài hai nhóm trên, người chưa thành niên và người không còn khả năng lao động thuộc diện chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính cũng thuộc nhóm được quy định tại Điều 21.

Nghị định cũng quy định nhóm đối tượng tự nguyện. Trong đó, người cao tuổi thực hiện theo hợp đồng ủy nhiệm chăm sóc. Những người không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 21 cũng có thể thuộc diện đối tượng tự nguyện theo quy định.

Các quy định này xác định tương đối rõ những nhóm người được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội, từ các đối tượng bảo trợ xã hội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người cần bảo vệ khẩn cấp đến những trường hợp tự nguyện sử dụng dịch vụ chăm sóc.

Theo Kiến thức Đầu tư | 2026-09-18 16:55
https://dautu.kinhtechungkhoan.vn/quyet-dinh-moi-ho-gia-dinh-duoc-nhan-toi-1-350-000-dong-thang-hieu-luc-tu-5-10-dieu-kien-de-huong-cu-the-ra-sao-1467056.html
Đừng bỏ lỡ
    Đặc sắc
    Nổi bật Người quan sát
    Đọc tiếp
    Quyết định mỗi hộ gia đình được nhận tới 1.350.000 đồng/tháng, hiệu lực từ 5/10: Điều kiện để hưởng cụ thể ra sao?
    POWERED BY ONECMS & INTECH