Thanh Hóa có 76.000ha tre nhưng vẫn ‘bỏ trống cơ hội’ tỷ USD, doanh nhân đề xuất cơ chế riêng

Minh Anh 11/06/2026 - 14:24

"Trung Quốc thành công vì họ có chính sách riêng cho ngành tre. Nhiều địa phương nghèo đã trở thành những vùng kinh tế phát triển chỉ sau 10-15 năm. Việt Nam hoàn toàn có thể làm được điều tương tự nếu có cơ chế phù hợp", nhà sáng lập Công ty cổ phần staBOO nói.

Trung Quốc thu 80 tỷ USD từ tre, Việt Nam mới đạt 800 triệu USD

Từng được xem là "thủ phủ tre" của Việt Nam với khoảng 76.000ha, nhưng Thanh Hóa đến nay vẫn chưa hình thành được một ngành công nghiệp tre đúng nghĩa. Trong khi đó, Trung Quốc đã biến cây tre thành ngành kinh tế trị giá hàng chục tỷ USD mỗi năm. Thực tế này dấy lên băn khoăn: Vì sao Việt Nam sở hữu nguồn tài nguyên tre dồi dào nhưng chưa thể biến thành động lực tăng trưởng cho khu vực nông thôn, miền núi?

Tại hội thảo "Mở khóa tăng trưởng - Động lực từ kinh tế tư nhân", ông Nguyễn Trọng Nghĩa, nhà sáng lập Công ty cổ phần staBOO, đã đưa ra những con số gây chú ý khi so sánh ngành tre Việt Nam với Trung Quốc.

Theo ông Nghĩa, tổng kim ngạch xuất khẩu ngành tre của Việt Nam hiện chỉ khoảng 800 triệu USD mỗi năm, trong khi Trung Quốc đã đạt gần 80 tỷ USD, cao gấp khoảng 100 lần.

Ông dẫn chứng, huyện An Cát (tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc) chỉ sở hữu khoảng 70.000ha tre nhưng tạo ra doanh thu khoảng 4 tỷ USD mỗi năm. Trong khi đó, Thanh Hóa có diện tích tre tương đương, khoảng 76.000ha, nhưng ngành công nghiệp tre gần như chưa phát triển.

"Thanh Hóa được xem là thủ phủ tre của Việt Nam nhưng gần như chưa làm ra được gì. Người dân trồng tre nhưng không có đầu ra ổn định. Thậm chí nhiều nơi đang chặt bỏ tre để chuyển sang trồng keo", ông Nghĩa nói.

Theo doanh nhân này, việc người dân từ bỏ cây tre không chỉ làm mất cơ hội phát triển kinh tế mà còn kéo theo nhiều hệ lụy môi trường. So với keo hay một số loại cây ngắn ngày khác, tre có khả năng chống xói mòn, chống sạt lở tốt hơn và góp phần duy trì độ che phủ đất bền vững.

Ông Nghĩa cho biết doanh nghiệp của mình đang đầu tư một nhà máy sản xuất ván tre ép tại Bá Thước (Thanh Hóa), được giới thiệu là một trong những dự án quy mô lớn nhất thế giới trong lĩnh vực này.

Nhà máy dự kiến đi vào hoạt động trong năm tới với công suất tiêu thụ khoảng 1.000 tấn tre mỗi ngày. Xa hơn, doanh nghiệp đặt mục tiêu phát triển vùng nguyên liệu tre trên quy mô 1 triệu ha trên cả nước, từ các tỉnh miền Bắc đến Tây Nguyên.

"Tre là nguyên liệu của tương lai. Trồng một lần có thể khai thác liên tục hàng chục năm, thậm chí cả trăm năm. Đây là cây trồng xanh, bền vững, giúp người dân miền núi có nguồn thu nhập ổn định", ông Nghĩa nhấn mạnh.

Ông ví cây tre như một "cây ATM của người nông dân", bởi sau khi hình thành vùng nguyên liệu ổn định, người dân có thể khai thác thường xuyên mà không phải tái trồng liên tục như nhiều loại cây lâm nghiệp khác.

1(4).jpg
Ông Nguyễn Trọng Nghĩa, nhà sáng lập Công ty cổ phần staBOO.

Hai nút thắt lớn: Đất đai và tín dụng

Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành hiện thực, doanh nghiệp cho rằng ngành tre đang đối mặt với nhiều rào cản.

Khó khăn đầu tiên là vấn đề chuẩn hóa đất đai để đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế như chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC. Theo ông Nghĩa, nhiều khu vực hiện vẫn tồn tại tình trạng hồ sơ đất đai và dữ liệu định vị thực tế chưa đồng nhất, gây khó khăn cho việc xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn xuất khẩu.

Bên cạnh đó là bài toán vốn cho người dân. Theo doanh nghiệp, nhiều hộ nông dân muốn chuyển đổi sang trồng tre nhưng không đủ nguồn lực tài chính. Trong khi tre cần khoảng 5 năm đầu để hình thành vùng nguyên liệu trước khi bước vào giai đoạn khai thác ổn định, người dân rất cần các nguồn tín dụng dài hạn và phù hợp với đặc thù sản xuất.

Từ thực tế đó, ông Nghĩa đề xuất nghiên cứu một cơ chế riêng cho ngành tre, bao gồm chính sách đất đai, tín dụng theo chuỗi liên kết và hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu.

"Trung Quốc thành công vì họ có chính sách riêng cho ngành tre. Nhiều địa phương nghèo đã trở thành những vùng kinh tế phát triển chỉ sau 10-15 năm. Việt Nam hoàn toàn có thể làm được điều tương tự nếu có cơ chế phù hợp", ông nói.

Trả lời kiến nghị này, ông Đào Văn Hà, Phó Vụ trưởng Vụ Dự báo, Thống kê - Ổn định tiền tệ tài chính thuộc Ngân hàng Nhà nước, cho biết hiện chưa có chương trình tín dụng riêng dành cho ngành tre.

Tuy nhiên, lĩnh vực này vẫn thuộc nhóm được hưởng các chính sách hỗ trợ chung dành cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn.

Theo ông Hà, Ngân hàng Nhà nước đang triển khai nhiều chương trình tín dụng phục vụ phát triển nông, lâm, thủy sản. Đáng chú ý, hạn mức cho vay không có tài sản bảo đảm đối với các đối tượng hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp đã được nâng từ 300 triệu đồng lên tối đa 5 tỷ đồng tùy từng trường hợp.

Dù vậy, câu chuyện mà doanh nghiệp ngành tre đặt ra cho thấy một vấn đề lớn hơn: Làm thế nào để biến những lợi thế tài nguyên sẵn có thành một ngành kinh tế thực sự có giá trị gia tăng cao, thay vì tiếp tục để "mỏ vàng xanh" nằm ngủ quên giữa các vùng nông thôn, miền núi.

Theo Kiến thức Đầu tư | 2026-06-10 14:37
https://dautu.kinhtechungkhoan.vn/thanh-hoa-co-76-000ha-tre-nhung-van-bo-trong-co-hoi-ty-usd-doanh-nhan-de-xuat-co-che-rieng-1451346.html
Đừng bỏ lỡ
    Đặc sắc
    Nổi bật Người quan sát
    Đọc tiếp
    Thanh Hóa có 76.000ha tre nhưng vẫn ‘bỏ trống cơ hội’ tỷ USD, doanh nhân đề xuất cơ chế riêng
    POWERED BY ONECMS & INTECH