TS. Bùi Anh Tuấn: Cắt hơn 53% thời gian, giảm 54,6% chi phí thủ tục vẫn chưa đủ, cần giám sát thực thi
Dù Chính phủ đã cắt giảm hơn một nửa thời gian giải quyết thủ tục hành chính và hơn 54% chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp chỉ trong hơn một tháng, theo TS. Bùi Anh Tuấn cải cách sẽ không tạo ra đột phá nếu thiếu cơ chế giám sát thực thi.
Tại Hội thảo trực tuyến "Tăng trưởng hai con số - Động lực từ doanh nghiệp", TS. Bùi Anh Tuấn, Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể (Bộ Tài chính), cho biết, trong 6 tháng đầu năm, cả nước có khoảng 170.000 doanh nghiệp thành lập mới hoặc quay trở lại hoạt động, trong khi 151.000 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.
Theo phân tích của ông Tuấn, 60% doanh nghiệp rút lui chỉ tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, chưa phải giải thể hoàn toàn. Đây là những doanh nghiệp lựa chọn "đóng băng" để tái cơ cấu, tìm kiếm cơ hội mới trước khi quyết định quay trở lại hoặc chấm dứt hoạt động.
Thực tế trong nửa đầu năm đã có gần 60.000 doanh nghiệp từ trạng thái tạm ngừng quay trở lại hoạt động, cho thấy phần lớn doanh nghiệp vẫn chưa từ bỏ khát vọng kinh doanh.
Đáng chú ý, khoảng 75% doanh nghiệp rút lui hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ - nhóm ngành có đặc trưng gia nhập và rời thị trường khá linh hoạt, đồng thời chịu áp lực cạnh tranh ngày càng lớn từ thương mại điện tử và sự thay đổi hành vi tiêu dùng.
Ngoài ra, hơn 60% doanh nghiệp rút lui có tuổi đời dưới 5 năm, trong khi khoảng 65% có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng. Theo dữ liệu liên thông giữa đăng ký kinh doanh, thuế và hải quan, phần lớn những doanh nghiệp này gần như không còn phát sinh doanh thu trong năm liền kề trước khi đóng cửa, cho thấy họ đã chuẩn bị tâm thế rút lui từ trước.
TS. Bùi Anh Tuấn cũng dẫn kinh nghiệm quốc tế khi cho biết tỷ lệ doanh nghiệp gia nhập và rút lui tại Anh, Mỹ cũng như nhiều nước châu Âu đều xấp xỉ 1/1. Trong khi đó, Việt Nam hiện ở mức 1 doanh nghiệp gia nhập tương ứng khoảng 1,18 doanh nghiệp rút lui.

Cắt thủ tục vẫn chưa đủ nếu thiếu giám sát thực thi
Theo TS. Bùi Anh Tuấn, giai đoạn 2026-2030, điều quan trọng không phải tiếp tục ban hành thêm nhiều chính sách mới mà là cụ thể hóa và thực thi hiệu quả những chính sách đã có.
Một trong những kết quả nổi bật thời gian qua là cải cách thủ tục hành chính được triển khai với tốc độ rất cao.
Theo ông Tuấn, Chính phủ đã ban hành 15 quyết định phê duyệt phương án cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý của 14 bộ, ngành. Chỉ trong hơn một tháng, Chính phủ tiếp tục ban hành 11 nghị quyết, giúp cắt giảm 53% thời gian xử lý thủ tục và giảm 54,6% chi phí tuân thủ so với năm 2024.
Tuy nhiên, cải cách sẽ chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng nếu thiếu cơ chế giám sát trong quá trình thực thi. Ông cảnh báo cần tránh tình trạng điều kiện kinh doanh bị "ẩn" dưới các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, khiến doanh nghiệp vẫn phải gánh thêm chi phí và thủ tục dù trên danh nghĩa đã được cắt giảm.
"Rất cần cơ chế giám sát thực thi để bảo đảm việc cắt giảm là thực chất, đồng thời phải có sự phản ánh trực tiếp từ cộng đồng doanh nghiệp để kịp thời phát hiện những rào cản mới phát sinh", ông nói.
Doanh nghiệp nhỏ vẫn "mắc kẹt" vì thiếu tài sản bảo đảm
Một điểm nghẽn lớn khác được TS. Bùi Anh Tuấn đề cập là khả năng tiếp cận tín dụng. Theo ông, dù mặt bằng lãi suất đã có nhiều cải thiện, trở ngại lớn nhất hiện nay không nằm ở lãi suất mà là điều kiện vay vốn.
Thống kê cho thấy 93,5% khoản vay tại Việt Nam vẫn yêu cầu tài sản bảo đảm, cao hơn nhiều so với mức 68,5% của thế giới và 65,8% của khu vực. Đáng chú ý, 75,5% doanh nghiệp không thể tiếp cận vốn nếu không có tài sản bảo đảm, trong khi doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tới 98% tổng số doanh nghiệp nhưng lại thiếu tài sản thế chấp.
Hệ quả là suốt gần một thập kỷ qua, tỷ trọng dư nợ tín dụng dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ tăng từ 16% lên khoảng 19%, cho thấy khả năng hấp thụ vốn của khu vực này vẫn rất hạn chế.
Để tháo gỡ điểm nghẽn, TS. Bùi Anh Tuấn cho rằng cần chuyển mạnh sang mô hình cho vay dựa trên dữ liệu, dòng tiền và chuỗi giá trị, đồng thời đẩy nhanh sửa đổi Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa theo hướng thay đổi toàn diện về đối tượng, nội dung và phương thức hỗ trợ.
Bên cạnh đó, Nghị quyết 68 cũng mở ra cơ hội lớn hơn cho khu vực tư nhân khi định hướng mở rộng sự tham gia của doanh nghiệp vào các dự án quan trọng quốc gia thông qua hoàn thiện cơ chế đặt hàng, đấu thầu và chỉ định thầu.
Theo số liệu được ông Tuấn dẫn chứng, trong ba đợt đầu tư công vừa qua, 564 dự án lớn với tổng quy mô khoảng 5,14 triệu tỷ đồng thì 74,6% nguồn vốn được huy động từ khu vực doanh nghiệp tư nhân, cho thấy dư địa rất lớn để khu vực này tiếp tục trở thành động lực tăng trưởng của nền kinh tế trong giai đoạn tới.
