Vì sao lãi suất tiết kiệm 10%/năm vẫn tồn tại dù Ngân hàng Nhà nước muốn giảm?
Mức lãi suất 8-10%/năm vẫn xuất hiện tại một số ngân hàng. Thống đốc NHNN lý giải áp lực huy động vốn khiến điều hành lãi suất không dễ dàng.
Lãi suất tiền gửi phân hóa theo kỳ hạn và quy mô tiền gửi
Thị trường tiền gửi tiếp tục ghi nhận sự phân hóa rõ nét giữa các ngân hàng, từng kỳ hạn và nhóm khách hàng. Mức lãi suất phổ biến hiện dao động từ 5-6,5%/năm, trong khi các mức từ 8-10%/năm chỉ xuất hiện ở một số chương trình ưu đãi hoặc áp dụng với các khoản tiền gửi có giá trị rất lớn.
Tại nhóm ngân hàng quốc doanh gồm Agribank, BIDV, Vietcombank và VietinBank, biểu lãi suất được duy trì ở mức đồng đều. Lãi suất kỳ hạn 1 tháng và 3 tháng cùng ở mức 4,75%/năm; kỳ hạn 6 tháng và 9 tháng là 6,6%/năm; kỳ hạn 12 tháng và 18 tháng đạt 6,8%/năm.
Trong khi đó, nhóm ngân hàng thương mại cổ phần có mức chênh lệch đáng kể.
Ở kỳ hạn 12 tháng, ACB đang niêm yết mức 7,3%/năm, cao nhất trong nhóm ngân hàng áp dụng cho khách hàng phổ thông. Saigonbank đứng sau với 7,2%/năm. MBV, Bac A Bank và VCBNeo cùng niêm yết 7%/năm, trong khi LPBank, BVBank và OCB duy trì quanh mức 6,9%/năm.
Tại kỳ hạn 6 tháng, MB triển khai chương trình ưu đãi dành cho khách hàng gửi tiết kiệm trực tuyến từ 100 triệu đồng, lĩnh lãi cuối kỳ, với lãi suất lên tới 8%/năm. Đây là mức cao hơn 2,2 điểm phần trăm so với biểu lãi suất niêm yết thông thường của ngân hàng.
Ở kỳ hạn 18 tháng, MBV và VCBNeo cùng dẫn đầu với mức 7%/năm. Nam A Bank, LPBank và Bac A Bank niêm yết quanh mức 6,95%/năm.
Ở chiều ngược lại, SCB tiếp tục là ngân hàng có mặt bằng lãi suất thấp nhất tại nhiều kỳ hạn, dao động từ 1,6-3,9%/năm.

Mức lãi suất 10% chỉ dành cho khách hàng đặc biệt
Bên cạnh mặt bằng lãi suất phổ biến, một số ngân hàng vẫn duy trì các chương trình lãi suất đặc biệt nhằm thu hút dòng tiền lớn.
PVcomBank hiện áp dụng mức lãi suất 10%/năm đối với tiền gửi kỳ hạn 12-13 tháng, lĩnh lãi cuối kỳ. Tuy nhiên, khách hàng phải gửi tối thiểu từ 2.000 tỷ đồng tại quầy mới được hưởng mức lãi suất này. Trong điều kiện thông thường, lãi suất kỳ hạn 12 tháng của ngân hàng chỉ ở mức 5,3%/năm.
MSB áp dụng lãi suất 9%/năm cho khoản tiền gửi từ 500 tỷ đồng với kỳ hạn 12 hoặc 13 tháng và đáp ứng điều kiện theo chương trình của ngân hàng.
Tại Nam A Bank, khách hàng gửi từ 500 tỷ đồng trở lên có thể được hưởng lãi suất 8,3%/năm ở kỳ hạn 24 tháng và 8,1%/năm ở kỳ hạn 36 tháng sau khi được phê duyệt.
Ở nhóm ngân hàng số, CAKE by VPBank triển khai chương trình cộng thêm 1,8%/năm cho khách hàng đáp ứng điều kiện "sổ đầu tiên" trong thời gian từ ngày 10-31/7/2026. Với ưu đãi này, lãi suất kỳ hạn 12 tháng có thể đạt 9,2%/năm đối với khoản tiền gửi từ 100.000 đồng trở lên và không tất toán trước hạn.
Trong khi đó, Vikki Bank niêm yết mức 7,9%/năm cho khoản tiền gửi từ 999 tỷ đồng kỳ hạn 13 tháng, còn HDBank áp dụng lãi suất 7,2%/năm cho kỳ hạn 12 tháng và 7,6%/năm cho kỳ hạn 13 tháng đối với khách hàng gửi từ 500 tỷ đồng trở lên.
Diễn biến trên cho thấy các mức lãi suất cao nhất hiện nay chủ yếu hướng đến nhóm khách hàng có nguồn tiền lớn hoặc tham gia các chương trình ưu đãi riêng, thay vì phản ánh mặt bằng lãi suất chung của thị trường.
Thống đốc NHNN: Điều hành lãi suất đang rất "vất vả"
Phát biểu tại Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp ngày 18/7, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn cho biết việc điều hành lãi suất đang chịu nhiều áp lực khi nhu cầu vốn của nền kinh tế ở mức cao, trong khi khả năng huy động vốn vẫn còn hạn chế.
Theo Thống đốc, khi nguồn vốn huy động không đáp ứng đủ nhu cầu tín dụng, lãi suất đầu vào sẽ chịu áp lực tăng. Điều này kéo theo chi phí vốn của các ngân hàng tăng lên, khiến lãi suất cho vay khó giảm và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Ông cho biết thời gian qua, NHNN đã nỗ lực ổn định mặt bằng lãi suất, đồng thời các ngân hàng thương mại cũng thống nhất hạn chế cạnh tranh huy động vốn nhằm kiểm soát chi phí đầu vào và tạo điều kiện giảm lãi suất cho vay.
Một nguyên nhân khác được Thống đốc chỉ ra là cơ cấu nguồn vốn của hệ thống ngân hàng vẫn mất cân đối. Hiện khoảng 80% nguồn vốn huy động là vốn ngắn hạn, trong khi vốn trung và dài hạn chỉ chiếm khoảng 20%. Trong bối cảnh nhu cầu vốn trung và dài hạn của doanh nghiệp ngày càng lớn, áp lực huy động vốn dài hạn vẫn hiện hữu, góp phần tạo nên sự phân hóa về lãi suất giữa các ngân hàng cũng như từng kỳ hạn tiền gửi.
Trong thời gian tới, NHNN cho biết sẽ tiếp tục nghiên cứu các giải pháp huy động thêm nguồn vốn, phối hợp với Bộ Tài chính cân đối nguồn lực cho nền kinh tế, qua đó góp phần ổn định mặt bằng lãi suất và hỗ trợ tăng trưởng.