Việt Nam chi hơn 2 tỷ USD nhập một mặt hàng thiết yếu cho đời sống người dân, Ấn Độ dẫn đầu nguồn cung
Năm 2025, Việt Nam nhập khẩu khoảng 978,3 nghìn tấn thịt và các sản phẩm từ thịt, trị giá 2,004 tỷ USD. Ấn Độ tiếp tục là thị trường cung cấp lớn nhất.
Theo số liệu thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, năm 2025, Việt Nam xuất khẩu khoảng 22,3 nghìn tấn thịt và các sản phẩm từ thịt, đạt 116,49 triệu USD, giảm 8% về lượng và giảm 0,5% về trị giá so với năm 2024.
Trong năm, thịt và sản phẩm từ thịt của Việt Nam được xuất khẩu sang 36 thị trường. Hồng Kông (Trung Quốc) tiếp tục là thị trường lớn nhất, chiếm 43,27% về lượng và 59,44% về trị giá tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Cụ thể, xuất khẩu sang thị trường này đạt 9,6 nghìn tấn, trị giá 69,23 triệu USD, giảm 21,4% về lượng và giảm 0,7% về trị giá so với năm trước.
Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu sang Hồng Kông vẫn là thịt lợn sữa nguyên con đông lạnh và thịt lợn nguyên con đông lạnh.

Nhiều thị trường tăng trưởng hai con số
Bên cạnh sự sụt giảm tại thị trường chủ lực, xuất khẩu thịt và sản phẩm từ thịt của Việt Nam sang nhiều thị trường khác lại ghi nhận mức tăng trưởng trên 2 con số cả về lượng và trị giá so với năm 2024, đáng chú ý như: Trung Quốc, Singapore, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hà Lan, Li-băng…
Về cơ cấu mặt hàng, năm 2025, xuất khẩu thịt của Việt Nam vẫn tập trung vào các nhóm chính gồm: Thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 37,24% về lượng và 56,42% về trị giá; Thịt khác và phụ phẩm dạng thịt ăn được sau giết mổ của động vật khác chiếm 31,91% về lượng và 21,29% về trị giá; Thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của gia cầm (nhóm 01.05) chiếm 29,72% về lượng và 20,46% về trị giá; Các chủng loại khác chiếm tỷ trọng không đáng kể.
Trong đó, thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh tiếp tục là mặt hàng xuất khẩu nhiều nhất, đạt 8,3 nghìn tấn, trị giá 65,72 triệu USD. Dù giảm 11,7% về lượng, trị giá xuất khẩu mặt hàng này lại tăng 12,1% so với năm 2024, chủ yếu nhờ giá xuất khẩu cải thiện. Riêng thị trường Hồng Kông ghi nhận mức giảm 8,7% về lượng nhưng tăng 14% về trị giá.
Nhập khẩu thịt vượt 2 tỷ USD, Nga và Brazil tăng mạnh
Ở chiều ngược lại, năm 2025, Việt Nam nhập khẩu khoảng 978,3 nghìn tấn thịt và các sản phẩm từ thịt, trị giá 2,004 tỷ USD, tăng 11,6% về lượng và 12,2% về trị giá so với năm 2024.
Ấn Độ tiếp tục là thị trường cung cấp lớn nhất, chiếm 19,29% tổng lượng thịt nhập khẩu, với 188,7 nghìn tấn, trị giá 681,32 triệu USD. Dù lượng nhập giảm 2,8%, trị giá vẫn tăng 5,6% so với năm trước.

Các thị trường cung cấp lớn tiếp theo gồm Nga, Brazil, Hoa Kỳ, Úc, Canada. Trong đó, nhập khẩu từ Nga và Brazil tăng mạnh cả về lượng và trị giá. Cụ thể, nhập khẩu từ Nga tăng 59,1% về lượng và 59,4% về trị giá; từ Brazil tăng lần lượt 42,7% và 57,3%. Ngược lại, nhập khẩu từ Hoa Kỳ và Úc có xu hướng giảm.
Ngoài ra, nhập khẩu từ nhiều thị trường khác như Ba Lan, Hàn Quốc, Đức, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Ý, Pháp, New Zealand, Bỉ, Slovenia, Algeria, Trung Quốc… cũng tăng mạnh so với năm 2024.
Về cơ cấu, các mặt hàng thịt nhập khẩu chủ yếu trong năm 2025 gồm: Thịt và phụ phẩm gia cầm (nhóm 01.05) chiếm 36,77% về lượng; Thịt trâu đông lạnh chiếm 17,68% về lượng và 31,85% về trị giá; Thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 18,75% về lượng và 20,88% về trị giá; Các nhóm phụ phẩm và thịt bò chiếm tỷ trọng còn lại.
Riêng thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh, Việt Nam nhập khẩu 183,4 nghìn tấn, trị giá 418,54 triệu USD, tăng 18,75% về lượng và 20,88% về trị giá so với năm 2024. Giá nhập khẩu bình quân đạt khoảng 2.273 USD/tấn, giảm 2,8%.
Trong đó, Nga là thị trường cung cấp lớn nhất, chiếm 48,44% tổng lượng thịt lợn nhập khẩu; tiếp theo là Brazil (30,91%), Đức (4,03%), Canada (4%), Hà Lan (2,58%).
Giá lợn hơi đầu năm 2026 tiếp tục tăng
Tại thị trường trong nước, tháng 01/2026, giá lợn hơi trên cả nước tiếp tục xu hướng tăng so với cuối năm 2025, dao động trong khoảng 65.000 – 81.000 đồng/kg.
Miền Bắc: 69.000 – 81.000 đồng/kg, tăng 7.000 – 13.000 đồng/kg;
Miền Trung – Tây Nguyên: 68.000 – 80.000 đồng/kg, tăng 6.000 – 13.000 đồng/kg;
Miền Nam: 65.000 – 78.000 đồng/kg, tăng 4.000 – 13.000 đồng/kg.
Diễn biến này phản ánh nhu cầu tiêu thụ tăng trong khi nguồn cung chịu nhiều áp lực, tạo mặt bằng giá mới cho thị trường chăn nuôi trong nước.

