Chứng quyền (CW) ngược dòng phiên ‘đỏ lửa’ 20/7: Tăng tới 64% nhưng thanh khoản chỉ dồn vào vài mã
Giữa phiên giao dịch “đỏ lửa” ngày 20/7, một số chứng quyền (CW) bất ngờ bật tăng hai chữ số. Phía sau đà tăng này là thực tế thanh khoản tập trung hẹp, điểm hòa vốn còn xa và độ dày sổ lệnh vô cùng hạn chế.
Sắc xanh chỉ chiếm 1% giá trị giữa thị trường CW nghiêng mạnh về xu hướng giảm
Phiên 20/7 đặt thị trường chứng quyền có bảo đảm (CW) vào trạng thái kém thuận lợi khi nhiều cổ phiếu cơ sở chịu áp lực điều chỉnh. Với chứng quyền mua, biến động của cổ phiếu cơ sở tác động trực tiếp đến kỳ vọng sinh lời, đồng thời làm thay đổi tương quan giữa giá thị trường, giá thực hiện và điểm hòa vốn. Khi thời gian giao dịch còn giới hạn, giá CW có thể dao động mạnh hơn cổ phiếu cơ sở.
Toàn thị trường CW nghiêng rõ về chiều giảm. Trong 270 mã có giao dịch, có 231 mã giảm (85,6%), 20 mã đứng giá (7,4%) và 19 mã tăng (7%). Tổng khối lượng đạt 76,6 triệu CW, tương ứng khoảng 56 tỷ đồng tính theo giá khớp ghi nhận. Tính theo bình quân gia quyền khối lượng, các mã có giao dịch giảm 22,9%.
Quy mô khớp lệnh tập trung chủ yếu ở chiều giảm. Các mã giảm chiếm 71,8 triệu CW, tương đương 93,7% tổng khối lượng và khoảng 51 tỷ đồng, tương ứng 91,4% toàn thị trường. Ở chiều ngược lại, các mã tăng chỉ đạt 2,3 triệu CW, tương đương 3% khối lượng và khoảng 2 tỷ đồng, tương ứng 3,6%. Các mã đứng giá đạt 2,5 triệu CW, khoảng 3 tỷ đồng.
Đáng chú ý, phần lớn CW có giao dịch rơi vào trạng thái giá cổ phiếu cơ sở thấp hơn giá thực hiện. Trong 270 mã, có 215 mã thuộc diện này (79,6%), chiếm 66,6 triệu CW (86,9% khối lượng) và khoảng 37 tỷ đồng (66%). Các mã này giảm bình quân 24,7%, trong khi những mã có giá cổ phiếu cơ sở cao hơn giá thực hiện giảm 11,6%.
Chênh lệch trên cho thấy giá CW không chỉ vận động theo cổ phiếu cơ sở. Giá thực hiện, điểm hòa vốn, thời gian còn lại và thanh khoản trên sổ lệnh cùng tham gia vào quá trình định giá. Khi cổ phiếu cơ sở nằm thấp hơn giá thực hiện, phần giá của CW phụ thuộc nhiều hơn vào kỳ vọng còn lại thay vì phần chênh lệch có lợi khi thực hiện quyền.
Trong bối cảnh đó, 5 mã tăng trên 20% gồm CHPG2626, CVJC2601, CHPG2610, CVRE2602 và CVNM2604 trở thành điểm nhấn riêng trên bảng điện. Tuy nhiên, các mã này chỉ chiếm 1,9% số mã có giao dịch, 0,64% tổng khối lượng và 1,14% giá trị toàn thị trường. Riêng CHPG2626 đóng góp khoảng 632 triệu đồng, gần 98% trong 5 mã; 4 mã còn lại cộng lại khoảng 13 triệu đồng.

Áp lực từ khoảng cách hòa vốn và thời gian lưu hành còn lại
CHPG2626 tăng mạnh nhất, thêm 64,1% lên 1.920 đồng/CW. Mã này do HSC phát hành, có cổ phiếu cơ sở HPG, giá thực hiện 23.000 đồng, tỷ lệ chuyển đổi 2:1 và ngày giao dịch cuối cùng (GDCC) là 14/12, còn 147 ngày tính từ 20/7. HPG ở mức 20.600 đồng/cổ phiếu, thấp hơn giá thực hiện 2.400 đồng (11,7%). Điểm hòa vốn của CHPG2626 là 26.840 đồng/cổ phiếu, cao hơn giá HPG 6.240 đồng (30,3%).
Tương quan này cho thấy phần tăng của CHPG2626 chủ yếu gắn với kỳ vọng và thời gian lưu hành còn lại. Với chứng quyền mua, khi giá cổ phiếu cơ sở thấp hơn giá thực hiện, nhà đầu tư chưa có phần chênh lệch có lợi nếu giả định thực hiện quyền ngay tại thời điểm ghi nhận. Do đó, mức tăng 64,1% của CHPG2626 chưa phản ánh trực tiếp sức mạnh của HPG.
CHPG2610 cũng dựa trên HPG nhưng có điểm hòa vốn xa hơn. Mã này do SSV phát hành, tăng 40,63% lên 900 đồng/CW, trong khi giá thực hiện là 26.331 đồng và điểm hòa vốn là 29.540 đồng/cổ phiếu. So với giá HPG 20.600 đồng, cổ phiếu cơ sở còn thấp hơn điểm hòa vốn 8.940 đồng (43,4%). Giá trị giao dịch chưa tới 2 triệu đồng khiến biến động của mã này chịu ảnh hưởng lớn từ giá khớp trong điều kiện sổ lệnh mỏng.
Ba mã còn lại cũng tăng trên 20% nhưng đều còn cách xa vùng hòa vốn. CVJC2601 tăng 50% lên 90 đồng/CW, trong khi VJC ở mức 132.000 đồng, thấp hơn giá thực hiện 169.221 đồng và thấp hơn điểm hòa vốn 170.610 đồng khoảng 38.610 đồng (29,3%). CVRE2602 tăng 25%, với VRE ở mức 23.250 đồng, còn cách điểm hòa vốn 37.270 đồng khoảng 14.020 đồng (60,3%). CVNM2604 tăng 22,22%, trong khi VNM ở mức 58.500 đồng, thấp hơn điểm hòa vốn 82.450 đồng khoảng 23.950 đồng (40,9%).
Thời gian lưu hành còn lại tạo ra sự phân hóa giữa các mã. CHPG2626 và CHPG2610 còn lần lượt 147 và 176 ngày đến GDCC, nên giá CW còn dư địa phản ánh kỳ vọng đối với HPG. Ngược lại, CVJC2601, CVRE2602 và CVNM2604 chỉ còn 29 ngày, trong khi điểm hòa vốn vẫn cao hơn giá cổ phiếu cơ sở từ 29,3% đến 60,3%. Với các mã còn cách xa vùng hòa vốn, quãng thời gian ngắn làm áp lực tăng giá của cổ phiếu cơ sở trở nên lớn hơn.

Biên độ dao động lớn xuất hiện trong điều kiện sổ lệnh thưa thớt
Bên cạnh giá thực hiện và điểm hòa vốn, thanh khoản là yếu tố quan trọng giải thích mức biến động cao của các mã tăng trên 20%. CHPG2626 có giá mua tốt nhất 740 đồng, trong khi giá bán tốt nhất 1.920 đồng, đúng bằng giá khớp. Khoảng chênh 1.180 đồng tương đương 61,5% giá khớp và 159,5% giá mua tốt nhất. Khi bên mua gần nhất thấp hơn nhiều so với vùng giá khớp, phần trăm tăng trên bảng điện chưa phản ánh đầy đủ khả năng giao dịch thực tế.
CHPG2610 có cấu trúc tương tự. Giá mua tốt nhất là 330 đồng, giá bán tốt nhất 890 đồng, trong khi giá khớp 900 đồng. Khoảng chênh 560 đồng tương đương 62,2% giá khớp và 169,7% giá mua tốt nhất. Với quy mô giao dịch chưa tới 2 triệu đồng, một số lệnh khớp ở vùng giá cao đã có thể tạo ra biến động lớn về tỷ lệ phần trăm.
CVNM2604 có thanh khoản thấp nhất trong 5 mã. Mã này tăng 22,22% lên 110 đồng/CW, nhưng chỉ khớp 700 CW, tương ứng khoảng 77.000 đồng. Giá thấp nhất là 20 đồng, cao nhất 140 đồng, biên dao động 120 đồng, tương đương 109,1% giá khớp cuối. Giá mua tốt nhất chỉ 20 đồng, giá bán tốt nhất 100 đồng; khoảng chênh 80 đồng tương đương 72,7% giá khớp và gấp 4 lần giá mua tốt nhất.
CVJC2601 và CVRE2602 có khối lượng cao hơn nhưng quy mô tiền vẫn nhỏ. CVJC2601 khớp 75.100 CW, khoảng 7 triệu đồng, với giá mua tốt nhất 50 đồng và giá bán tốt nhất 90 đồng, chênh 44,4% giá khớp. CVRE2602 khớp 83.100 CW, khoảng 4 triệu đồng, với giá mua tốt nhất 30 đồng và giá bán tốt nhất 50 đồng, chênh 40%. Cả 2 mã chỉ còn 29 ngày đến GDCC, nên biến động giá chịu tác động đồng thời từ thời gian ngắn, thị giá thấp và sổ lệnh thưa.
Biên dao động trong phiên tiếp tục cho thấy cơ chế khuếch đại giá. CHPG2626 dao động từ 740 lên 1.920 đồng, tương đương 61,5% giá khớp cuối; CHPG2610 từ 310 lên 900 đồng, tương đương 65,6%; CVJC2601 từ 60 lên 90 đồng, tương đương 33,3%; CVRE2602 từ 30 lên 70 đồng, tương đương 80%; CVNM2604 từ 20 lên 140 đồng, tương đương 109,1%. Với CW có thị giá thấp, vài bước giá đã tạo ra thay đổi lớn về tỷ lệ phần trăm.
Mức tăng 20–64% của 5 mã CW trong phiên 20/7 hình thành từ nhiều yếu tố xuất hiện cùng lúc: cổ phiếu cơ sở thấp hơn giá thực hiện, điểm hòa vốn còn xa, thời gian lưu hành chưa kết thúc, thị giá thấp, sổ lệnh mỏng và giá khớp rơi vào vùng bán cao. Sắc xanh của các mã này tạo điểm nhấn trên bảng điện, trong khi quy mô giao dịch và cấu trúc sản phẩm cho thấy sức cầu chưa lan rộng trên toàn thị trường CW.