Tiêu điểm

Góc nhìn Luật sư vụ Hợp đồng kỳ nghỉ: Việc sa thải nhân viên chỉ là chiêu trò 've sầu thoát xác', dòng tiền đi đâu, trách nhiệm ở đó

Hồ Nga 12/06/2026 10:42

Luật sư Nguyễn Huy Độ: Dưới góc độ pháp lý, doanh nghiệp tuyệt đối không thể viện dẫn lý do nhân viên tư vấn sai để phủi bỏ trách nhiệm.

1-1-.png

Những ngày gần đây, mô hình sở hữu kỳ nghỉ tiếp tục trở thành tâm điểm chú ý khi VTV khởi phát loạt phóng sự về cạm bẫy từ các hợp đồng kỳ nghỉ.

Bên cạnh các tranh cãi liên quan đến quyền lợi khách hàng, một trong những vấn đề được dư luận đặc biệt quan tâm là trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp khi phát sinh khiếu nại, tranh chấp.

Trên thực tế, tại nhiều vụ việc, doanh nghiệp cho rằng các nội dung tư vấn gây tranh cãi là hành vi của cá nhân nhân viên bán hàng và những nhân sự này đã bị xử lý hoặc chấm dứt hợp đồng lao động.

Tuy nhiên, câu hỏi được đặt ra là liệu trách nhiệm đối với các hợp đồng đã được ký kết và số tiền đã được doanh nghiệp thu về có thể được tách rời khỏi trách nhiệm của doanh nghiệp hay không.

Để làm rõ hơn các khía cạnh pháp lý liên quan đến mô hình này, chúng tôi có buổi trao đổi với Luật sư Nguyễn Huy Độ, Tổng Giám đốc Công ty luật BFB về vấn đề này.

Luật sư Nguyễn Huy Độ

Sở hữu kỳ nghỉ theo pháp luật Việt Nam nên được hiểu là sản phẩm du lịch, dịch vụ hay một dạng tài sản có thể chuyển nhượng, thưa ông?

Việc sở hữu kỳ nghỉ hoàn toàn không được định danh rõ ràng trong hệ thống pháp luật hiện hành. Dưới góc độ pháp lý, sở hữu kỳ nghỉ không thể đánh tráo khái niệm là một sản phẩm du lịch thông thường. Bản chất pháp lý của nó là Quyền tài sản đối với quyền sử dụng dịch vụ lưu trú. Quyền tài sản này chỉ có giá trị pháp lý khi cấu thành từ hai nguyên lý cốt lõi:

Thứ nhất, Quyền sở hữu kỳ nghỉ là quyền tài sản và chỉ do Cơ sở có đủ điều kiện hình thành tài sản tạo ra kỳ nghỉ mới có sản phẩm là kỳ nghỉ để bán.

Thứ hai, vô hiệu tư cách pháp lý của doanh nghiệp không có tài sản: Các doanh nghiệp không sở hữu tài sản đủ điều kiện tạo ra "kỳ nghỉ" thì hoàn toàn không có căn cứ pháp lý để xác lập và định đoạt sản phẩm "kỳ nghỉ" với tư cách là một sản phẩm của riêng họ. Việc không có tài sản gốc nhưng vẫn ký hợp đồng dài hạn để thu tiền thực chất là hành vi kinh doanh tài sản bất hợp pháp.

Vì vậy việc sở hữu kỳ nghỉ phải được xác thực bởi chính chủ sở hữu tài sản hình thành nên "kỳ nghỉ" mới có giá trị pháp lý.

Hiện nay đã có khung pháp lý riêng cho mô hình sở hữu kỳ nghỉ chưa, hay đang áp dụng các quy định chung của pháp luật dân sự và bảo vệ người tiêu dùng?

Tính đến thời điểm hiện tại, Việt Nam hoàn toàn chưa có một khung pháp lý riêng biệt cho mô hình sở hữu kỳ nghỉ. Tất cả vẫn đang phải áp dụng các quy định chung của Bộ luật Dân sự, Luật Du lịch và đặc biệt là Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Nói cách khác, đây không phải là một “lỗ hổng pháp lý” không có luật trị, mà đáng ngại hơn là một khoảng trống lớn trong cơ chế giám sát và thực thi pháp luật.

Luật đã quy định rất rõ doanh nghiệp phải cung cấp thông tin minh bạch, không được lừa dối hay gây nhầm lẫn cho khách hàng. Thế nhưng trên thực tế, nhiều đơn vị vẫn lợi dụng sự phức tạp của hợp đồng dài hạn để tung chiêu trò tiếp thị áp lực tâm lý, “bẫy” người mua ký kết ngay tại chỗ.

Chính vì vậy, vấn đề cấp bách hiện nay không phải là ngồi chờ luật mới, mà là cơ quan quản lý cần siết chặt việc kiểm tra, thanh tra các hợp đồng mẫu và xử lý nghiêm hành vi sai lệch để bảo vệ người tiêu dùng trước khi niềm tin của toàn bộ thị trường bị đánh sập.

Luật sư Nguyễn Huy Độ 2

Nhiều trường hợp người mua hợp đồng kỳ nghỉ không nhận được những dịch vụ như tư vấn và ‘đòi’ lại tiền bất thành. Những khoảng trống pháp lý nào đang khiến tranh chấp trong lĩnh vực này kéo dài nhiều năm?

Bản chất là do "sở hữu kỳ nghỉ" đang hoàn toàn nằm ngoài vòng pháp luật chuyên ngành. Nó không thuộc Luật Du lịch, cũng chẳng thuộc Luật Kinh doanh Bất động sản, mà đang nấp bóng một cách tinh vi dưới dạng hợp đồng dịch vụ vô danh. Chính lỗ hổng lớn này đã biến vụ việc thành một "trận bóng" đùn đẩy trách nhiệm: Các cơ quan quản lý lúng túng, né tránh, rồi đẩy người dân vào mê cung kiện tụng dân sự kéo dài vô tận.

Khi ra tòa, người tiêu dùng hoàn toàn bị tước đi vũ khí tự vệ. Doanh nghiệp đã chủ đích dùng hợp đồng theo mẫu để cài cắm một ma trận điều khoản "bút sa gà chết", cố tình vô hiệu hóa toàn bộ kịch bản tư vấn gian dối trước đó của nhân viên.

Thậm chí, chúng còn tinh vi đối phó bằng cách cho khách hàng đi nghỉ một vài lần đầu. Hành vi này tạo ra một ranh giới lập lờ, che mắt cơ quan tố tụng để né tránh việc bị khởi tố hình sự ngay lập tức với lý do "đang thực hiện hợp đồng nhưng gặp sự cố". Đây không phải tranh chấp dân sự thông thường, đây là sự trục lợi có tính toán dựa trên khoảng trống pháp luật, khiến người dân có theo kiện kiệt quệ nhiều năm trời thì tiền cũng đã bị tẩu tán sạch.

Trong thực tiễn, đã có trường hợp các doanh nghiệp bán hợp đồng kỳ nghỉ đổ lỗi cho nhân viên tư vấn và cho biết ‘đã cho nhân viên đó nghỉ việc’. Sau đó doanh nghiệp rũ bỏ trách nhiệm với khách hàng.

Các công ty thường dùng chiêu bài sa thải nhân viên để cắt đứt đầu mối đối chất. Đồng thời, họ sẽ lật lại điều khoản cài cắm trong hợp đồng: "Mọi lời hứa của nhân viên tư vấn không có giá trị, chỉ có văn bản hợp đồng mới có giá trị pháp lý”.

Doanh nghiệp không thể phủi bỏ trách nhiệm của công ty với tư cách là chủ thể ký hợp đồng và tham gia vào giao dịch như vậy, bởi tại điều 597 Bộ Luật Dân sự 2015 có quy định bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra như sau:

"Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao; nếu pháp nhân đã bồi thường thiệt hại thì có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật"

Như vậy, đối chiếu với quy định của pháp luật hiện hành, việc nhân viên nghỉ việc chỉ là quan hệ lao động nội bộ, doanh nghiệp hoàn toàn không thể rũ bỏ trách nhiệm với khách hàng. Công ty là chủ thể ký Hợp đồng, đóng dấu và thu tiền của khách hàng thì phải chịu trách nhiệm cuối cùng trước pháp luật.

Vậy trách nhiệm cuối cùng thuộc về ai khi một hợp đồng trị giá hàng trăm triệu đồng hoặc hàng tỷ đồng được ký kết và doanh nghiệp là bên nhận tiền từ hợp đồng đó?

Trách nhiệm cuối cùng hoàn toàn thuộc về doanh nghiệp nhận tiền. Việc sa thải nhân viên chỉ là chiêu trò “ve sầu thoát xác” nhằm trốn tránh nghĩa vụ pháp lý.

Là người làm việc trong lĩnh vực pháp lý nhiều năm, tôi khẳng định:

Thứ nhất, Dòng tiền đi đâu, trách nhiệm ở đó. Hợp đồng dù vài trăm triệu hay hàng tỷ đồng thì dòng tiền đều chạy về tài khoản của doanh nghiệp, con dấu đóng trên hợp đồng là của doanh nghiệp. Nhân viên tư vấn chỉ là người làm thuê. Do đó, doanh nghiệp là chủ thể duy nhất phải chịu trách nhiệm thực hiện hợp đồng hoặc bồi thường thiệt hại cho khách hàng.

Thứ hai, Doanh nghiệp không thể lấy nhân viên làm "lá chắn". Như căn cứ tôi đã trả lời ở câu hỏi trước, tại Điều 597 Bộ luật Dân sự 2015, pháp nhân phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Việc công ty cho nhân viên nghỉ việc chỉ là quan hệ lao động nội bộ, không có giá trị xóa bỏ hay đùn đẩy nghĩa vụ đối với khách hàng.

Thứ ba, Doanh nghiệp có thể sẽ phải đối mặt với trách nhiệm hình sự nếu có dấu hiệu lừa đảo hệ thống. Nếu doanh nghiệp dung túng, thiết kế quy trình để nhân viên tư vấn sai sự thật nhằm thu tiền rồi sa thải họ để xóa dấu vết thì đây không còn là tranh chấp dân sự thông thường mà là hành vi lừa đảo có tổ chức.

Cơ quan điều tra cần vào cuộc xử lý hình sự doanh nghiệp và ban lãnh đạo hoàn toàn có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 Bộ Luật Dân sự 2015) hoặc Tội Lừa dối khách hàng (Điều 198 Bộ Luật Dân sự 2015), buộc họ phải trả lại tiền cho người dân.

Một doanh nghiệp có thể viện dẫn lý do nhân viên tư vấn sai để từ chối trách nhiệm đối với những cam kết đã được sử dụng để thuyết phục khách hàng ký hợp đồng hay không?

Dưới góc độ pháp lý, doanh nghiệp tuyệt đối không thể viện dẫn lý do nhân viên tư vấn sai để phủi bỏ trách nhiệm.

Bởi Nhân viên tư vấn ngồi tại văn phòng công ty, sử dụng tài liệu, logo, danh nghĩa của công ty để tiếp khách, thì mọi phát ngôn và cam kết của họ được xem là hành động thay mặt cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải gánh chịu hậu quả trước, việc xử lý nhân viên là câu chuyện nội bộ sau đó.

Doanh nghiệp thường lập luận: "Nhân viên tự ý hứa hẹn vượt quá thẩm quyền". Tuy nhiên, doanh nghiệp tổ chức các sự kiện bán hàng rầm rộ, dòng tiền hàng trăm triệu chảy về tài khoản công ty, hợp đồng được duyệt ký và đóng dấu.

Điều này chứng tỏ doanh nghiệp biết (hoặc buộc phải biết) quy trình tư vấn của nhân viên nhưng vẫn chấp nhận kết quả để thu tiền.

Pháp luật không cho phép doanh nghiệp vừa hưởng lợi từ hành vi tư vấn của nhân viên, lại vừa phủi tay khi hành vi đó bị phản ứng. Nếu những cam kết sai sự thật như: Hứa hẹn có thể bán lại kiếm lời, cam kết lợi nhuận, giấu chi phí thường niên là yếu tố cốt lõi khiến khách hàng hiểu sai bản chất mà ký vào hợp đồng, thì đây được cấu thành là Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép (Điều 127 Bộ luật Dân sự).

Luật sư Nguyễn Huy Độ, Tổng Giám đốc BFB
Luật sư Nguyễn Huy Độ, Tổng Giám đốc BFB

Nếu tất cả trách nhiệm đều được đẩy sang cho nhân viên đã nghỉ việc, liệu điều đó có phù hợp với nguyên tắc bảo vệ người tiêu dùng hay không?

Việc đẩy trách nhiệm cho nhân viên đã nghỉ việc là hành vi chà đạp nghiêm trọng lên nguyên tắc bảo vệ người tiêu dùng.

Doanh nghiệp không thể dùng điều khoản cài cắm "lời nói của nhân viên không có giá trị" làm lá chắn bởi Người tiêu dùng xuống tiền vì tin vào uy tín thương hiệu của doanh nghiệp, không phải tin cá nhân nhân viên. Đẩy khách hàng vào thế phải tự đi "đòi nợ" một cá nhân đã nghỉ việc là đảo lộn nguyên tắc bảo vệ bên yếu thế của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Nếu cứ sa thải nhân viên là sạch tội, các doanh nghiệp sẽ liên tục dùng công thức: Tuyển sales mới , sau đó ép tư vấn gian dối để thu tiền tỷ và cuối cùng là sa thải để xóa dấu vết. Điều này biến nhân viên thành "con tốt thí", dung túng cho hành vi trục lợi và phá nát thị trường.

Tóm lại, dòng tiền chảy về túi doanh nghiệp thì doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm. Không thể có chuyện doanh nghiệp hưởng trọn lợi nhuận nhưng lại đẩy rủi ro, thiệt hại cho người tiêu dùng gánh chịu.

Nếu hàng chục, hàng trăm khách hàng phản ánh những nội dung tư vấn giống nhau trong nhiều năm, liệu có thể xem đây chỉ là hành vi tự phát của một vài nhân viên hay không?

Dưới góc độ pháp lý, không thể có sự trùng hợp ngẫu nhiên như thế. Đây rõ ràng là một kịch bản lừa dối đã được lập trình và đào tạo bài bản từ phía doanh nghiệp.

Các nhân viên tư vấn cho các khách hàng độc lập không thể tự nghĩ ra những chiêu trò, lời hứa hẹn giống hệt nhau từ câu chữ (như cam kết bán lại kiếm lời, giấu nhẹm chi phí quản lý hằng năm, thúc ép ký ngay tại chỗ). Đây là minh chứng cho thấy doanh nghiệp đã biên soạn sẵn kịch bản tư vấn gian dối và tổ chức đào tạo đồng loạt cho nhân viên nhằm mục đích sập bẫy người tiêu dùng.

Khi các phản ánh gian dối diễn ra liên tục suốt nhiều năm, ban lãnh đạo doanh nghiệp không thể lấy lý do "không biết" để vô can. Việc họ bỏ mặc cho nhân viên tiếp tục sử dụng kịch bản này, vẫn ký duyệt hợp đồng và thu về dòng tiền hàng trăm tỷ đồng chứng tỏ doanh nghiệp hoàn toàn đồng lõa, dung túng cho hành vi lừa dối để trục lợi.

Sự lặp đi lặp lại mang tính hệ thống này chính là chìa khóa để cơ quan điều tra bác bỏ luận điệu "lỗi tại nhân viên" hay "tranh chấp dân sự". Nó vạch trần một đường dây lừa đảo có tính chất chuyên nghiệp, có tổ chức và dùng thủ đoạn xảo quyệt – hoàn toàn đủ căn cứ để cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS).

Sự trùng khớp thông tin của hàng trăm nạn nhân trong nhiều năm qua chính là bằng chứng đanh thép nhất, vạch trần bản chất vụ việc. Doanh nghiệp là bên vạch ra kịch bản, đào tạo nhân viên thực hiện, đồng thời cũng là bên thụ hưởng dòng tiền cuối cùng. Do đó, ban lãnh đạo doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm hình sự trước pháp luật, không thể dùng việc sa thải nhân viên để làm "bia đỡ đạn.

Trong thực tiễn pháp lý, cơ quan quản lý sẽ căn cứ vào đâu để xác định một hành vi là sai phạm cá nhân hay là phương thức bán hàng mang tính hệ thống của doanh nghiệp?

Dưới góc độ pháp lý và nghiệp vụ điều tra, để bóc tách một vụ việc là "sai phạm cá nhân" hay " phương thức bán hàng mang tính hệ thống", đồng thời xác định dấu hiệu hình sự của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, các cơ quan quản lý và cơ quan tố tụng sẽ căn cứ vào hai nhóm yếu tố cốt lõi sau:

Thứ nhất, cần phải làm rõ câu chuyện Sai phạm cá nhân hay Hệ thống có tổ chức?

Cơ quan điều tra sẽ không chỉ nhìn vào tờ hợp đồng mà sẽ "vạch trần" toàn bộ quy trình vận hành nội bộ của doanh nghiệp qua các chứng cứ sau:

- Tài liệu đào tạo và Quy trình bẫy khách hàng: Thu giữ các giáo trình training, kịch bản chốt sales, tài liệu định hướng nhân viên cách né tránh câu hỏi về chi phí thường niên, hoặc cách hứa hẹn viển vông về việc "bán lại kiếm lời". Nếu hàng trăm nhân viên đều nói một nội dung sai sự thật giống nhau, đó là bằng chứng của việc ép buộc/đào tạo từ ban lãnh đạo.

- Cơ chế kiểm soát và chia sẻ lợi nhuận: Cơ quan chức năng sẽ kiểm tra hệ thống camera, ghi âm tại các sự kiện bán hàng, cũng như cơ chế chia hoa hồng. Nếu doanh nghiệp biết nhân viên tư vấn sai để chốt cọc nhưng vẫn duyệt hợp đồng, thu tiền và trích thưởng lớn cho nhân viên đó, thì đây là hành vi đồng lõa và chủ đích trục lợi.

- Tần suất và quy mô khiếu nại: Nếu chỉ có 1-2 khách hàng phản ánh, đó có thể là sai sót cá nhân. Nhưng khi có hàng trăm đơn thư tố cáo kéo dài trong nhiều năm với cùng một kịch bản, pháp luật sẽ định rõ đây là sai phạm mang tính hệ thống, có tổ chức và có tính chất chuyên nghiệp.

Thứ hai, cần phải xác định yếu tố mấu chốt Năng lực thực hiện hợp đồng (Công ty có sở hữu kỳ nghỉ hay không?).

Cơ quan điều tra sẽ làm rõ: Doanh nghiệp có tài sản thực tế để bán hay không?

- Nếu bán cái mình không có đồng nghĩa với Dấu hiệu chiếm đoạt: Nếu doanh nghiệp ký hợp đồng cam kết cung cấp kỳ nghỉ lưu trú 10-20 năm tại các resort 5 sao, nhưng thực tế doanh nghiệp không sở hữu dự án, không có liên kết hoặc đã bị chấm dứt hợp đồng với các chủ resort, thì đây là hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Doanh nghiệp hoàn toàn biết rõ mình không có năng lực thực hiện nhưng vẫn ký để thu tiền tỷ của khách hàng.

- Sử dụng dòng tiền sai mục đích: Cơ quan chức năng sẽ dòng quét tài khoản của doanh nghiệp. Nếu tiền túi khách hàng đóng vào không được dùng để đặt phòng, vận hành dịch vụ kỳ nghỉ mà bị ban lãnh đạo tẩu tán, đem đi đầu tư việc khác hoặc dùng sai mục đích thì yếu tố cấu thành tội phạm hình sự đã hoàn thiện.

Theo Kiến thức Đầu tư
https://dautu.kinhtechungkhoan.vn/goc-nhin-luat-su-vu-hop-dong-ky-nghi-viec-sa-thai-nhan-vien-chi-la-chieu-tro-ve-sau-thoat-xac-dong-tien-di-dau-trach-nhiem-o-do-1451700.html
Đừng bỏ lỡ
    Góc nhìn Luật sư vụ Hợp đồng kỳ nghỉ: Việc sa thải nhân viên chỉ là chiêu trò 've sầu thoát xác', dòng tiền đi đâu, trách nhiệm ở đó
    POWERED BY ONECMS & INTECH