Nghịch lý ngành gỗ: Cùng 3 tấn gỗ keo, bán dăm chỉ thu khoảng 3 triệu đồng, chế biến sâu có thể tạo giá trị vượt 20 triệu đồng
Ngành gỗ Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải đồng thời đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực chế biến sâu và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu.
Bài toán lớn của ngành gỗ Việt Nam hiện nay là làm thế nào để giữ lại nhiều giá trị hơn trong nước thay vì tiếp tục xuất khẩu các sản phẩm có giá trị gia tăng thấp.
Đây cũng là vấn đề được nhiều chuyên gia, cơ quan quản lý và doanh nghiệp cùng nhìn nhận tại Diễn đàn "Tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy phát triển nguyên liệu bền vững cho ngành gỗ chế biến sâu".

Cùng một lượng gỗ nhưng giá trị chênh lệch nhiều lần
Theo ông Phạm Đình Thắng, Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH Triệu Thái Sơn, các doanh nghiệp chế biến sâu hiện không thiếu thị trường hay đơn hàng. Khó khăn lớn nhất là nguồn nguyên liệu hợp pháp, đủ tuổi và đủ chất lượng ngày càng khan hiếm.
Thực tế, tại nhiều địa phương vẫn phổ biến tình trạng khai thác rừng keo khi mới 3-4 năm tuổi. Cùng với đó, sự phát triển nhanh của các cơ sở băm dăm và điểm thu mua nguyên liệu khiến nguồn gỗ lớn phục vụ chế biến sâu ngày càng khó tiếp cận.
Ông Thắng đưa ra phép so sánh cho thấy sự khác biệt rất lớn về giá trị của cùng một lượng nguyên liệu. Theo tính toán thực tế của doanh nghiệp, khoảng 3 tấn gỗ keo tươi nếu bán dưới dạng dăm gỗ chỉ tạo ra khoảng 3 triệu đồng. Nếu sản xuất viên nén, giá trị đạt khoảng 6 triệu đồng. Trong khi đó, nếu được đưa vào chuỗi chế biến sâu như sản xuất plywood và tận dụng phụ phẩm, giá trị có thể vượt 20 triệu đồng.
Theo ông, câu chuyện không chỉ nằm ở giá mua nguyên liệu mà còn là việc ngành gỗ lựa chọn giữ lại bao nhiêu giá trị cho địa phương, cho người lao động, cho ngân sách và cho vị thế của ngành gỗ Việt Nam.
Từ thực tế này, doanh nghiệp kiến nghị cơ quan quản lý tăng cường kiểm soát hoạt động của các cơ sở băm dăm, hạn chế tình trạng khai thác keo non, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp chế biến sâu tiếp cận vốn lưu động, tín dụng xanh và các chương trình chuyển đổi công nghệ.
Nguồn nguyên liệu vẫn là điểm nghẽn lớn nhất của ngành gỗ
Theo ông Nguyễn Văn Diện, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), nguồn nguyên liệu vẫn là nền tảng để ngành gỗ nâng cao giá trị gia tăng. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều diện tích rừng trồng vẫn được khai thác theo chu kỳ ngắn, khiến các doanh nghiệp chế biến sâu gặp khó trong việc tìm kiếm nguồn gỗ lớn đáp ứng yêu cầu sản xuất.

Ông cho biết Trung Quốc vẫn là thị trường tiêu thụ gỗ nguyên liệu lớn của Việt Nam. Trong cơ chế thị trường, khi nhu cầu thu mua gỗ khai thác sớm vẫn tồn tại thì người dân sẽ lựa chọn phương án phù hợp với điều kiện kinh tế của mình.
Mặc dù định hướng phát triển rừng gỗ lớn đã được ngành lâm nghiệp triển khai từ nhiều năm thông qua các chính sách khuyến khích kéo dài chu kỳ trồng rừng, nhưng quá trình thực hiện vẫn gặp nhiều khó khăn. Phần lớn hộ trồng rừng có quy mô nhỏ, điều kiện kinh tế còn hạn chế nên việc kéo dài thêm vài năm đồng nghĩa với việc tiếp tục bỏ vốn đầu tư, thời gian thu hồi vốn lâu hơn và phải đối mặt với nhiều rủi ro như thiên tai, sâu bệnh hay biến động giá.
Theo ông Diện, chính sách liên kết giữa doanh nghiệp và người trồng rừng đã được ban hành nhưng hiệu quả chưa như kỳ vọng. Phần lớn doanh nghiệp trong ngành có quy mô vừa và nhỏ, năng lực tài chính còn hạn chế nên khó bao tiêu nguyên liệu hoặc hỗ trợ người dân trên diện rộng. Điều này khiến mối liên kết giữa doanh nghiệp với người trồng rừng chưa thực sự bền vững.
Ở góc độ nghiên cứu, PGS.TS. Lý Tuấn Trường, Viện trưởng Viện Công nghiệp gỗ và Nội thất (Trường Đại học Lâm nghiệp), cho rằng ngành gỗ hiện nay không thiếu người trồng rừng, không thiếu doanh nghiệp hay cơ sở nghiên cứu. Điểm nghẽn lớn nhất nằm ở việc các chủ thể trong chuỗi giá trị vẫn hoạt động theo những mục tiêu khác nhau.
Theo ông, người trồng rừng ưu tiên thu hồi vốn nhanh để giảm rủi ro, trong khi doanh nghiệp cần nguồn nguyên liệu ổn định, chất lượng cao và đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc. Kết quả nghiên cứu khoa học cũng chưa được kết nối hiệu quả với nhu cầu thực tiễn của sản xuất.
Sự khác biệt về lợi ích khiến các liên kết giữa doanh nghiệp và người trồng rừng chủ yếu mang tính ngắn hạn. Khi giá gỗ tăng, người dân có xu hướng bán cho bên trả giá cao hơn; ngược lại, khi thị trường xuất khẩu gặp khó, doanh nghiệp thu hẹp thu mua. Vì vậy, các hợp đồng liên kết dễ bị phá vỡ, làm giảm động lực đầu tư dài hạn.
Theo PGS.TS. Lý Tuấn Trường, muốn giải quyết bài toán nguyên liệu cần chuyển từ tư duy "mua - bán nguyên liệu" sang xây dựng chuỗi liên kết bền vững, trong đó lợi ích, rủi ro và thông tin được chia sẻ giữa các bên. Khi người trồng rừng có đầu ra ổn định và doanh nghiệp chủ động được nguồn cung, chuỗi nguyên liệu mới có thể phát triển lâu dài.
Muốn tăng giá trị phải chuyển sang chế biến sâu
Theo TS Nguyễn Đức Thành, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Công nghiệp rừng (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam), ngành gỗ Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải đồng thời đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực chế biến sâu và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu.
Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu gỗ của Việt Nam lần đầu vượt 17 tỷ USD. Năm 2026, ngành đặt mục tiêu đạt 19 tỷ USD và hướng tới 25 tỷ USD vào năm 2030.
Tuy nhiên, theo ông Thành, nhóm sản phẩm có giá trị gia tăng thấp như dăm gỗ, viên nén và ván thông thường vẫn có biên lợi nhuận thấp, dễ bị cạnh tranh thay thế. Trong khi đó, chuyển sang chế biến sâu, đổi mới công nghệ và tối ưu hóa quá trình sản xuất sẽ giúp doanh nghiệp chủ động hơn trên thị trường, nâng cao giá trị gia tăng và lợi nhuận.

Ông cho rằng đổi mới công nghệ còn giúp nâng cao năng suất lao động, bảo đảm chất lượng sản phẩm đồng đều, chủ động hơn về nguồn nguyên liệu và đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc của các thị trường lớn. Thay vì coi các tiêu chuẩn mới là rào cản, doanh nghiệp có thể biến đây thành lợi thế cạnh tranh.
Trong khi đó, theo ông Ngô Sỹ Hoài, Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, các lợi thế truyền thống như nguyên liệu rẻ và lao động giá rẻ đang dần suy giảm. Thị trường thế giới ngày càng áp dụng các tiêu chuẩn xanh khắt khe, yêu cầu truy xuất nguồn gốc, giảm phát thải carbon và tiêu dùng bền vững.
Ông cũng chỉ ra rừng trồng của Việt Nam chủ yếu là gỗ nhỏ, tỷ lệ rừng có chứng chỉ bền vững còn thấp, dữ liệu vùng nguyên liệu chưa được số hóa đầy đủ và liên kết giữa người trồng rừng với doanh nghiệp còn lỏng lẻo. Trong khi đó, Việt Nam vẫn xuất khẩu nhiều nguyên liệu có giá trị thấp, còn thị trường thế giới lại có nhu cầu lớn đối với đồ nội thất, vật liệu xanh và các sản phẩm gỗ có hàm lượng công nghệ cao.
Theo ông Bùi Trung Nghĩa, Phó Chủ tịch VCCI, để đạt mục tiêu xuất khẩu 25 tỷ USD vào năm 2030, ngành chế biến gỗ không thể tiếp tục tăng trưởng theo chiều rộng dựa trên sinh khối ngắn hạn và nguyên liệu nhập khẩu, mà phải chuyển sang mô hình trồng rừng gỗ lớn chất lượng cao phục vụ chế biến sâu.
Đã đến lúc ngành gỗ Việt Nam chuyển từ tư duy đủ nguyên liệu để sản xuất sang nguyên liệu hợp pháp, minh bạch, có trách nhiệm và bền vững; từ mục tiêu xuất khẩu nhiều sang xuất khẩu giá trị cao; từ bán gỗ sang xuất khẩu hệ sinh thái nội thất và thương hiệu.