Người phụ nữ đầu tiên của Việt Nam đỗ Tiến sĩ tại nước ngoài: Xuất thân từ gia đình đại trí thức danh giá, vẻ vang trời Âu rồi 'biến mất' bí ẩn
Đại gia đình của bà có 18 anh chị em, nhiều người là trí thức nổi danh, con cháu hiện sống rải rác ở nhiều nước.
Ngày 19/3/1935, tại Pháp, một phụ nữ Việt Nam bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ Khoa học Vật lý với đề tài “Tính chất quang điện của các chất hữu cơ”. Người đó là bà Hoàng Thị Nga, sinh năm 1903 tại làng Đông Ngạc, Hà Đông, Hà Nội.
Sự kiện này được xem là dấu mốc đặc biệt trong lịch sử giáo dục Việt Nam, khi lần đầu tiên một phụ nữ Việt Nam đạt học vị Tiến sĩ theo hệ thống đào tạo phương Tây.

Nữ Tiến sĩ Tây học đầu tiên của Việt Nam
Hoàng Thị Nga sinh ra trong một gia đình khoa bảng có truyền thống học hành. Cha bà là Hoàng Huân Trung, từng giữ chức quan tuần phủ. Gia đình có nhiều thành viên theo con đường học thuật như Hoàng Cơ Nghị - cử nhân Vật lý, Giáo sư Trường trung học Bảo hộ; Hoàng Cơ Bình - người sang Pháp học ngành Y khoa.
Dòng họ của bà cũng có bề dày khoa bảng, với tiên tổ là Hoàng Nguyễn Thự - người đỗ Tiến sĩ đệ tam giáp năm 1787. Đại gia đình có 18 anh chị em, nhiều người sau này trở thành trí thức.
Thuở nhỏ, Hoàng Thị Nga theo học tại trường nữ sinh tiểu học Pháp - Việt École Brieux ở Hà Nội (nay là Trường THCS Thanh Quan). Sau đó bà học tại Trường Sư phạm nữ sinh người Việt (École Normale des Institutrices annamites) ở phố Hàng Bài, nay là Trường THCS Trưng Vương.
Sau khi tốt nghiệp, bà giảng dạy tại Đáp Cầu (Bắc Ninh) một thời gian rồi tiếp tục theo học tại Trường Cao đẳng Sư phạm (École Supérieure de Pédagogie).
Sau khi đỗ tú tài phần thứ nhất tại Việt Nam, Hoàng Thị Nga sang Pháp học tú tài phần 2. Bà tiếp tục theo học khoa Khoa học tại Viện Khoa học (Faculté des Sciences) thuộc Đại học Paris, nay là Đại học Sorbonne.
Năm 1931, bà nhận bằng cử nhân khoa học và tiếp tục nghiên cứu ở bậc Tiến sĩ. Ngày 19/3/1935, bà bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ Khoa học Vật lý với đề tài “Tính chất quang điện của các chất hữu cơ” (Photovoltaic properties of organic substances).

Theo bài viết trên Tạp chí Khoa học số 97, sau khi nghe phần trình bày của nghiên cứu sinh, hội đồng chấm luận án đã “đồng thanh ngợi khen” và quyết định trao học vị Tiến sĩ với xếp loại ưu. Bài báo ghi nhận: “Công chúng đến xem kỳ thi ấy đều tâm phục cái tài khoa học của một cô gái Việt Nam”.
Một số nhà khoa học sau này đánh giá đây là đề tài có tính hiện đại trong lĩnh vực vật lý. Theo đó, bài báo khoa học của bà công bố năm 1939 vẫn còn được trích dẫn trong các tài liệu khoa học đến tận năm 1996.
Cách đây nhiều năm, trên Tạp chí Xây dựng Đảng, GS Hoàng Xuân Sính (Chủ tịch hội đồng quản trị Trường ĐH Thăng Long) cũng đã nhắc đến TS Hoàng Thị Nga. Bà cho biết: "Người phụ nữ đầu tiên đỗ Tiến sĩ 'Tây học' là bà Hoàng Thị Nga, Tiến sĩ Vật lý - một ngành học khó với phụ nữ. Bà được Toàn quyền Pháp Đờ-cu, đại diện chính quyền Pháp ở Đông Dương tiếp lúc mới từ Pháp về sau khi đỗ Tiến sĩ. Hồi đó nam giới người nào được tiếp xúc với Hoàng Thị Nga đều lấy làm vinh hạnh và cũng phải chuẩn bị trước lời ăn, tiếng nói để không hở ra những câu kém tri thức làm hổ thẹn đấng mày râu! Ngoài một số ít ỏi phụ nữ có bằng cấp ra, ta còn có một số những nữ văn sĩ và thi sĩ được biết trong văn học. Trí thức nữ thời đó cũng chỉ có vậy, không nhiều hơn thời phong kiến là bao".

Cuộc đời lặng lẽ, bí ẩn
Sau khi hoàn thành chương trình nghiên cứu tại Pháp, Hoàng Thị Nga trở về Việt Nam và tham gia giảng dạy trong hệ thống giáo dục đại học.
Một số tài liệu cho biết ngày 15/5/1945, bà được chính quyền Pháp cử làm Giáo sư tại Trường Đại học Khoa học (hay còn gọi là Trường Cao đẳng Khoa học). Đến ngày 15/8/1945, bà được đề bạt giữ chức Hiệu trưởng của trường. Theo các ghi chép trong cuốn “Đại học Y Hà Nội - Năm tháng và sự kiện”, mức lương dành cho bà khi giữ chức hiệu trưởng là 1.033,54 đồng mỗi tháng.
Ngày 7/11/1945, chính quyền mới ban hành nghị định tiếp tục trả lương cho bà theo mức đã quy định trước đó. Tuy nhiên, thời gian bà giữ chức vụ quản lý tại trường khá ngắn.
Hồi ký của cố Giáo sư Đào Văn Tiến - một nhà sinh học được xem là người đặt nền móng cho ngành sinh học Việt Nam, cho biết sự xuất hiện của Hoàng Thị Nga tại giảng đường đại học khi đó gây nhiều chú ý. Trước đó, đội ngũ giảng viên tại các trường đại học chủ yếu là người Pháp.
Ông viết: “Khi được tin bà về trường đại học đã có nhiều bàn tán trong giới sinh viên vì họ đã quen với các thầy giáo Pháp ở trường đại học trước kia - không có thầy giáo Việt Nam ở trường đại học. Ngay cả thầy Nguyễn Mạnh Tường, đã đỗ Tiến sĩ luật khoa cũng không được nhận vào dạy cho khoa Luật. Nay có giáo viên người Việt mà lại là nữ, đứng trên bục đại học giảng bài bằng tiếng Việt, quả là một hiện tượng hiếm có”.
Hồi ký cũng mô tả bà khoảng 40 tuổi, dáng người đẫy đà, gương mặt trái xoan, thường mặc trang phục kiểu phương Tây với áo vét, váy ngắn và giày cao gót. Khi làm việc tại trường, bà sống tại một căn nhà trên phố Lý Thường Kiệt.

Theo ghi chép của Giáo sư Đào Văn Tiến, khoảng 2 tháng sau khi trường khai giảng, bà không còn xuất hiện tại nơi làm việc. Sau đó có thông tin bà đã rời Việt Nam sang Pháp.
Thông tin Hoàng Thị Nga từng giữ chức hiệu trưởng Trường Cao đẳng Khoa học gây chú ý. Trong nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử giáo dục đại học Việt Nam, tên của bà hầu như không được đề cập. Một số nhà sử học cho biết họ chưa tìm thấy tài liệu chính thức ghi nhận vị trí quản lý của bà tại các trường đại học giai đoạn đó.
Sau khi rời Việt Nam, Hoàng Thị Nga sang Pháp sinh sống. Các tài liệu về giai đoạn sau của cuộc đời bà khá hạn chế.
Đại gia đình bà Hoàng Thị Nga có 18 anh chị em, nhiều người là trí thức nổi danh, con cháu hiện sống rải rác ở nhiều nước.
Ông Hoàng Kim Đồng - người gọi cụ Hoàng Huân Trung là ông nội, gọi bà Nga là cô ruột, hiện sống tại Đông Ngạc và trông coi từ đường gia tộc. Theo ông Đồng, gia đình hiện còn rất ít tư liệu liên quan đến bà Hoàng Thị Nga. Những người thân từng biết rõ về cuộc đời bà hầu hết đã qua đời hoặc đã ở tuổi 80-90.
Ông Đồng cho biết Hoàng Thị Nga không lập gia đình và qua đời tại Pháp năm 1970. Ban đầu bà được an táng tại Nice. Đến ngày 13/9/2000, di cốt của bà được cải táng về nghĩa trang Antony (Hauts-de-Seine), trong phần mộ của gia đình người em trai Hoàng Cơ Thụy.
