Ông vua đổi quốc hiệu nước ta từ Đại Việt sang Việt Nam, không lấy Trạng nguyên, không lập Hoàng hậu
Năm 1804, vị vua này đã đặt quốc hiệu nước ta là Việt Nam, mở ra trang sử mới cho dân tộc.

Năm 1802, sau khi đánh bại nhà Tây Sơn và thu hồi toàn bộ giang sơn, vua Gia Long chính thức lập nên vương triều nhà Nguyễn. Triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam kéo dài 143 năm, từ 1802 đến 1945.
Sau khi lên ngôi, nhà vua cử sứ thần do Lê Quang Định làm chánh sứ sang nhà Thanh xin phong vương và đổi quốc hiệu từ Đại Việt thành Nam Việt. Bất chấp sự phản đối và lo ngại của nhà Thanh về những nhầm lẫn với nước Triệu Đà, vua Gia Long kiên quyết biện giải qua nhiều lá thư. Cuối cùng, năm 1804, nhà Thanh chấp nhận đổi trật tự từ thành Việt Nam.
Vua Gia Long có tên khai sinh là Nguyễn Phúc Chủng, sau đổi thành Nguyễn Phúc Ánh, sinh ngày 8/2/1762 tại Thừa Thiên. Ông là con thứ ba của Nguyễn Phúc Luân và bà Nguyễn Thị Hoàn.
Khi mới 4 tuổi, cha ông đã bị quyền thần Trương Phúc Loan phế truất và bắt giam khiến ông phải sống trong cảnh cung đình hiểm họa. Những năm tháng tuổi thơ bôn ba theo chúa Nguyễn Phúc Thuần vào Quảng Nam, rồi chứng kiến sự sụp đổ của tập đoàn phong kiến Đàng Trong trước phong trào Tây Sơn vào năm 1777, đã đúc vào tâm trí Nguyễn Ánh lòng hận thù.
Năm 1780, ông xưng vương tại Sài Gòn, sử dụng ấn truyền quốc và liên tục đối đầu với quân Tây Sơn. Những năm tiếp theo, trước các đợt tiến công mãnh liệt của Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ, ông nhiều lần phải chạy trốn ra đảo Phú Quốc rồi Côn Lôn. Có những thời điểm cùng đường, ông phải trao Hoàng tử Cảnh mới 4 tuổi cho Giám mục Đa Bá Lộc làm con tin sang Pháp cầu viện.
Trong những ngày tháng phiêu dạt ngoài khơi thiếu thốn lương thực, ông đã cùng bầy tôi ăn cơm với mắm tôm hòa gừng, ớt, tỏi và ô mai. Sau khi cầu viện Xiêm bất thành vào năm 1784, ông kiên trì trở về nước vào năm 1787 để khôi phục lực lượng. Với chiến thuật "tằm ăn lá dâu" và tận dụng mùa gió nồm thuận lợi từ năm 1792, quân đội của ông lần lượt chiếm lại Quy Nhơn vào năm 1788 rồi tiến đánh thành Phú Xuân vào tháng 6/1801, tạo tiền đề chấm dứt hoàn toàn sự chia cắt.
Tháng 6/1802, Nguyễn Ánh chính thức lập đàn tế cáo trời đất tại Phú Xuân, lấy niên hiệu là Gia Long và đến năm 1806 thì làm lễ xưng đế tại điện Thái Hòa.

Sau khi nắm trọn giang sơn, vua Gia Long tập trung tối đa quyền lực vào tay Hoàng đế nhằm khắc phục tình trạng phân tán, xâu xé của các phe phái phong kiến kéo dài từ thời Lê - Trịnh - Nguyễn phân tranh.
Triết lý tập quyền chuyên chế này được thể hiện triệt để qua chính sách "Tứ bất": Không đặt Tể tướng, không lấy Trạng nguyên, Đông cung không lập Thái tử và Chính cung không lập Hoàng hậu (chỉ đến thời vua Bảo Đại mới có sự ngoại lệ khi phong Nam Phương Hoàng hậu).
Trong đó, việc không đặt Tể tướng giúp ngăn ngừa nguy cơ chuyên quyền của ngoại thích hay quyền thần bộc phát; không lấy Trạng nguyên nhằm tránh việc một cá nhân có uy thế tri thức tuyệt đối lấn át triều đình; không sớm lập Thái tử và Hoàng hậu nhằm hạn chế tối đa các phe phái tranh giành ngôi báu trong chốn hậu cung.
Trong bối cảnh đất nước vừa bước ra khỏi nhiều thập kỷ chiến tranh, xã hội bước đầu đi vào ổn định nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều khủng hoảng. Vua Gia Long cho tổ chức lại bộ máy hành chính từ trung ương xuống địa phương, chia cả nước thành 23 trấn và 4 doanh (Bắc thành gồm 11 trấn; Gia Định thành gồm 5 trấn; ở giữa là các trấn độc lập và đất kinh kỳ). Triều đình trung ương do vua đứng đầu, trợ lực trực tiếp là 6 bộ (Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công) do các Thượng thư quản lý.
Nhằm củng cố pháp luật trên nền tảng chuyên chế, năm 1815, ông ban hành bộ Quốc triều hình luật (Luật Gia Long) gồm 22 quyển với 398 điều luật sao chép từ luật nhà Thanh. Dù mang tính chất hà khắc để trấn áp các lực lượng chống đối, bộ luật này có điểm tích cực là trừng trị rất nặng tội tham nhũng và các tệ nạn xã hội.
Bên cạnh đó, nhà vua áp dụng mô hình quản lý đinh, khẩu, ruộng đất và thuế khóa quy củ theo hình mẫu thời Lê Sơ trên quy mô toàn quốc, đẩy mạnh công cuộc khai hoang vùng đồng bằng sông Cửu Long và chú trọng trị thủy đắp đê ở đồng bằng Bắc Bộ.

Về giáo dục, ông cho dựng Văn Thánh ở làng An Ninh, lập Quốc Tử Giám ở kinh đô, đồng thời tổ chức khoa thi Hương đầu tiên vào năm 1807 để từng bước khôi phục nền học vấn.
Trong đối ngoại, ông duy trì triều cống với nhà Thanh để giữ hòa hiếu, dùng quân sự khống chế Chân Lạp và Ai Lao, nhưng tỏ ra nghi ngại và kiên quyết từ chối thiết lập quan hệ thương mại với các quốc gia phương Tây như Anh hay Pháp.
Cuối đời, nhận thức rõ nguy cơ tiềm ẩn, ông đã chọn người con thứ tư là Nguyễn Phúc Đảm (sau là vua Minh Mệnh) làm người kế vị bởi tư tưởng bài xích Công giáo và không có thiện cảm với phương Tây, kèm theo di huấn lịch sử: "Hãy đối xử tử tế với người Âu nhưng hết sức cảnh giác trước các tham vọng của họ".
Triều đại của ông còn để lại không ít những vết gợn tiêu cực, điển hình là việc tước đoạt sinh mạng của một số công thần lớn như Nguyễn Văn Thành và Đặng Trần Thường.
Là vị vua có 31 người con
Theo các tài liệu lịch sử, vua Gia Long có hai người vợ chính cùng nhiều cung tần, sinh hạ được 13 hoàng tử và 18 công chúa. Sau nhiều năm lâm bệnh nặng, vào tháng 11/1818, ông hạ chiếu giao quyền quyết định việc nước cho Thái tử Nguyễn Phúc Đảm và chính thức qua đời vào ngày 19/2/1820 ở tuổi 59, sau 18 năm trị vì trên ngai vàng.
Thi hài của ông được an táng tại Thiên Thọ Lăng ở làng Đình Môn, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế và được tôn miếu hiệu là Thế Tổ, thụy hiệu Cao Hoàng Đế, lập bài vị thờ tại Chánh Án Miếu trong Thế Miếu thuộc Đại nội kinh thành Huế.
Vua Gia Long là người đặt những nền móng đầu tiên cho toàn bộ vương triều nhà Nguyễn kéo dài 143 năm (1802-1945). Sau khi ông qua đời, các vị vua kế vị như Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức tiếp tục duy trì bộ máy cai trị nhưng dần rơi vào sự bảo thủ cực đoan.
Sự trì trệ này khiến triều đình Huế lúng túng trước làn sóng xâm lược của chủ nghĩa tư bản phương Tây. Ký kết các hòa ước bất bình đẳng như Hòa ước Quý Mùi năm 1883 và Hòa ước Patenôtre năm 1884, nhà Nguyễn dần đánh mất quyền chủ quyền, biến đất nước thành xứ bảo hộ của thực dân Pháp.
Trải qua nhiều đời vua bù nhìn, triều đại chính thức sụp đổ hoàn toàn vào ngày 30/8/1945 khi vị vua cuối cùng là Bảo Đại tuyên bố thoái vị tại Ngọ Môn, trao quyền kiểm soát cho chính quyền cách mạng.
Hiện nay, tại nhiều địa phương trong cả nước đặc biệt là khu vực TP. Huế, các đền, miếu, lăng tẩm như Thiên Thọ Lăng và Thế Miếu vẫn được gìn giữ như những di tích lịch sử đặc biệt.
Tài liệu tham khảo:
(2006), Chín đời chúa, mười ba đời vua, tác giả Nguyễn Đắc Xuân, NXB Thuận Hóa.
(2008), Việt Nam các nhân vật Lịch sử - Văn hóa, tác giả Đinh Xuân Lâm, NXB Văn hóa Thông tin.
(1995), Các triều đại Việt Nam, tác giả Đỗ Quỳnh Cư, NXB Thanh Niên.