Tỉnh tương lai lên thành phố trực thuộc Trung ương lọt top 5 tăng trưởng cao nhất cả nước 9 tháng đầu năm
Tỉnh tương lai lên thành phố trực thuộc Trung ương tăng trưởng GRDP 11,31% sau 9 tháng, đứng thứ 5 cả nước.

Sau 9 tháng đầu năm 2026, kinh tế Ninh Bình tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực khi tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tăng 11,31% so với cùng kỳ năm trước, thuộc nhóm 5 tỉnh, thành phố có tốc độ tăng trưởng cao nhất cả nước.
Theo Thông báo của Cục Thống kê, với mức tăng 11,31%, Ninh Bình xếp thứ 5/34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và thứ 4/6 tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng sông Hồng về tốc độ tăng GRDP.
GRDP quý III/2026 theo giá so sánh năm 2020 ước đạt 86.090 tỷ đồng, tăng 10,54% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,65%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 13,23%, riêng công nghiệp tăng 14,64%; khu vực dịch vụ tăng 9,42%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 6,21%.
Lũy kế 9 tháng, GRDP theo giá so sánh năm 2020 ước đạt 250.180 tỷ đồng, tăng 11,31%. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,06%; công nghiệp và xây dựng tăng 15,58%; dịch vụ tăng 9,95%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 5,10%.
Theo giá hiện hành, GRDP 9 tháng năm 2026 ước đạt 291.585 tỷ đồng. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 31.420 tỷ đồng, chiếm 10,78%; công nghiệp và xây dựng đạt 140.382 tỷ đồng, chiếm 48,15%, riêng công nghiệp đạt 115.690 tỷ đồng, chiếm 39,68%; dịch vụ đạt 98.337 tỷ đồng, chiếm 33,72%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đạt 21.446 tỷ đồng, chiếm 7,35%.
Công nghiệp, xuất khẩu tiếp tục là động lực tăng trưởng
Công nghiệp tiếp tục giữ vai trò động lực chủ yếu, dẫn dắt tăng trưởng chung của Ninh Bình. Trong 9 tháng năm 2026, giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp tăng 17,23%, đóng góp 6,68 điểm phần trăm vào mức tăng GRDP. Riêng công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,42%.
Một số ngành công nghiệp ghi nhận mức tăng cao như sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 63,12%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 37,41%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 19,66%; sản xuất thiết bị điện tăng 15,66%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 16,31%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 13,06%.
Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực cũng tăng mạnh. Sản lượng máy tính xách tay tăng 65,3%, điện sản xuất tăng 40,5%, xe ô tô tải tăng 35,5%. Nhóm linh kiện, mô-đun camera và màn hình cảm ứng tăng 15,1%; xi măng và clanhke tăng 6,5%.
Ở chiều ngược lại, một số ngành công nghiệp truyền thống giảm so với cùng kỳ do nhu cầu thị trường và đơn hàng từ một số đối tác nước ngoài sụt giảm; lao động chuyển dịch sang các ngành sản xuất mới có điều kiện làm việc và thu nhập tốt hơn. Một số ngành giảm gồm in, sao chép bản ghi các loại giảm 25,96%; sản xuất kim loại giảm 27,82%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 31,53%; dệt, may và da giày giảm 0,50%.
Theo định hướng của tỉnh, thu hút đầu tư tập trung vào các ngành công nghệ cao, công nghệ sạch và có giá trị gia tăng lớn.
Hoạt động xuất khẩu tiếp tục là một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế. Trong 9 tháng, kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 28,1 tỷ USD, tăng 50% so với cùng kỳ, giúp Ninh Bình duy trì xuất siêu trên 2,7 tỷ USD.
Trong đó, linh kiện điện tử đạt khoảng 11,25 tỷ USD, tăng 38,1%; may mặc đạt khoảng 3,15 tỷ USD, tăng 116,4%; máy tính và linh kiện đạt khoảng 2,85 tỷ USD, tăng 67,3%; giày dép đạt khoảng 1,85 tỷ USD, tăng 30%.
Kim ngạch nhập khẩu đạt khoảng 25,448 tỷ USD, tăng 51%, cho thấy nhu cầu nhập nguyên liệu, linh kiện phục vụ sản xuất tiếp tục tăng.
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục giữ vai trò quan trọng. Trong 9 tháng, tỉnh cấp mới 38 dự án FDI với tổng vốn đăng ký 493,7 triệu USD. Khu vực này tạo việc làm ổn định cho khoảng 250.000 lao động và nộp ngân sách Nhà nước khoảng 22.100 tỷ đồng.
Tính chung, toàn tỉnh cấp mới 124 dự án, gồm 38 dự án FDI với tổng vốn đăng ký 493,7 triệu USD và 86 dự án trong nước với tổng vốn đăng ký hơn 12.384 tỷ đồng.
Bên cạnh công nghiệp, khu vực dịch vụ tiếp tục tăng trưởng khá. Trong 9 tháng, khu vực dịch vụ tăng 9,95% theo giá so sánh năm 2020. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt hơn 240.343 tỷ đồng, tăng 20% so với cùng kỳ.
Du lịch tiếp tục là điểm sáng trong bức tranh kinh tế Ninh Bình. Trong 9 tháng đầu năm 2026, tỉnh đón khoảng 20,55 triệu lượt khách, trong đó có 2,45 triệu lượt khách quốc tế. Tổng doanh thu du lịch ước đạt 21.350 tỷ đồng.
Ở khu vực nông nghiệp, Ninh Bình tiếp tục định hướng phát triển theo hướng xanh và bền vững. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,06% trong 9 tháng theo giá so sánh năm 2020.
Tỉnh mở rộng 197 cánh đồng lớn với diện tích hơn 6.600 ha, triển khai mô hình canh tác lúa tiết kiệm nước, tạo tín chỉ carbon trên hơn 8.800 ha. Toàn tỉnh có 1.001 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên.
Các kết quả trên góp phần tạo nền tảng cho tăng trưởng kinh tế, đồng thời mở rộng dư địa phát triển thương mại, dịch vụ và các ngành kinh tế liên quan.

Tập trung xử lý điểm nghẽn đầu tư công
Cùng với những kết quả đạt được, Ninh Bình vẫn đối mặt với điểm nghẽn về giải ngân vốn đầu tư công. Sau 9 tháng, tỷ lệ giải ngân mới đạt khoảng 36,5-37,3% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao.
Đây được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung xử lý trong những tháng cuối năm. Tỉnh đặt mục tiêu giải ngân 100% nguồn vốn ngân sách Trung ương vào cuối tháng 11 hoặc đầu tháng 12/2026.
Trọng tâm được đặt vào việc cá thể hóa trách nhiệm của người đứng đầu, tháo gỡ vướng mắc về giải phóng mặt bằng, thu tiền sử dụng đất và tiến độ thi công. Các dự án tồn đọng, kéo dài được yêu cầu xử lý dứt điểm để đưa nguồn lực vào phát triển.
Tỉnh cũng rà soát tiến độ thực hiện để điều chỉnh kế hoạch vốn năm 2026 và chuẩn bị kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030.
Theo ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình, địa phương xác định nhiệm vụ những tháng cuối năm có ý nghĩa quyết định và kiên định mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026 cũng như giai đoạn 2026-2030 theo tinh thần Kết luận số 18 của Trung ương và Nghị quyết số 169 của Chính phủ.
Ninh Bình sẽ cập nhật kịch bản tăng trưởng từng ngành, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến, chế tạo, thương mại - dịch vụ gắn với chất lượng tăng trưởng và bảo vệ môi trường.
Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn 9 tháng đạt trên 47.000 tỷ đồng, trong đó thu từ thuế, phí đạt 29.640 tỷ đồng, bằng 90,87% dự toán Trung ương giao. Dự kiến cả năm, thu ngân sách vượt 30% dự toán, tương đương khoảng 10.000 tỷ đồng.
Bên cạnh phát triển kinh tế, tỉnh tiếp tục rà soát, xử lý các dự án chậm tiến độ, xử lý tài sản công, nhà đất dôi dư; tăng cường đối thoại theo chuyên đề nhằm kịp thời tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp. Các lĩnh vực văn hóa, an sinh xã hội, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững.
Để khơi thông nguồn lực, tăng cường liên kết liên vùng và tạo dư địa phát triển dài hạn, Ninh Bình kiến nghị cấp có thẩm quyền bổ sung tuyến cao tốc Ninh Bình - Sơn La vào Quy hoạch mạng lưới đường bộ thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Theo đề xuất, tuyến đường có vai trò kết nối các tỉnh Tây Bắc với trục giao thông Bắc - Nam, tạo sự đồng bộ với cao tốc Bắc - Nam phía Đông, Quốc lộ 1, đường Hồ Chí Minh, tuyến đường bộ ven biển và đường sắt tốc độ cao tương lai, qua đó mở rộng kết nối vùng nội địa với các khu kinh tế biển.
Ninh Bình cũng đề xuất Chính phủ chỉ đạo Bộ Xây dựng sớm tổ chức lập quy hoạch chi tiết Cảng hàng không quốc tế Ninh Bình, đồng thời đẩy nhanh tiến độ thẩm định, phê duyệt quy hoạch Khu kinh tế Kim Sơn nhằm tạo động lực phát triển cho địa phương và vùng duyên hải Bắc Bộ.
Song song với việc mở rộng không gian kết nối, tỉnh tập trung hoàn thiện quy hoạch chung đô thị Ninh Bình, hướng tới mục tiêu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trước năm 2030 với bản sắc “đô thị di sản thiên niên kỷ”.
Định hướng này đặt ra yêu cầu cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế, phát triển công nghiệp, mở rộng đô thị với bảo tồn các giá trị văn hóa, thiên nhiên và bảo vệ môi trường.
Với kết quả tăng trưởng 11,31% trong 9 tháng đầu năm, Ninh Bình đang có nền tảng để tiếp tục theo đuổi mục tiêu tăng trưởng hai con số. Tuy nhiên, khả năng duy trì đà tăng trưởng sẽ phụ thuộc đáng kể vào việc xử lý các điểm nghẽn về đầu tư công, phát huy hiệu quả dòng vốn đầu tư và hoàn thiện hệ thống hạ tầng kết nối trong thời gian tới.
Trong số các địa phương đang đặt mục tiêu nâng tầm vị thế hành chính, đô thị, Ninh Bình và Khánh Hòa đều xác định năm 2030 là dấu mốc quan trọng để hướng tới mô hình thành phố trực thuộc Trung ương.
Đề án số 07/ĐA-UBND ngày 18/6/2026 về xây dựng Ninh Bình trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trước năm 2030 xác định mô hình phát triển gồm một trục động lực, hai đầu phát triển, ba cực phát triển, bốn vùng kinh tế và năm hành lang kinh tế.