TP.HCM muốn tăng trưởng 10-11%: Chuyên gia chỉ rõ ‘đòn bẩy’ có thể cộng thêm 3 điểm %
Theo TS Cấn Văn Lực, 5 động lực mới gồm khoa học công nghệ và chuyển đổi số, cải cách thủ tục hành chính, liên kết vùng, chuyển đổi xanh và xử lý các dự án tồn đọng có thể đóng góp khoảng 3 điểm phần trăm tăng trưởng cho TP.HCM nếu được triển khai hiệu quả.
5 động lực mới có thể cộng thêm 3 điểm %
Tại chương trình Cà-phê doanh nhân do Hiệp hội Doanh nghiệp TP.HCM (HUBA) tổ chức với chủ đề “Doanh nghiệp hợp lực để tăng trưởng 2 con số”, TS Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia, cho biết GRDP TP.HCM 6 tháng đầu năm 2026 tăng 8,55%, đứng thứ 18 trong 34 tỉnh, thành phố.
Trong 7 tháng đầu năm, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tăng khoảng 13%, vốn đầu tư tăng 10% và xuất khẩu tăng 9%. Nếu muốn đạt tăng trưởng 10-11% cả năm, thành phố cần tạo bước tăng tốc mạnh hơn trong những tháng cuối năm.
Theo ông, tốc độ tăng đầu tư cần được nâng lên khoảng 13-15%, đồng thời tiếp tục thúc đẩy tiêu dùng và xuất khẩu.
Tuy nhiên, bên cạnh các động lực truyền thống, TP.HCM cần khai thác thêm những động lực mới. TS Cấn Văn Lực chỉ ra 5 yếu tố gồm khoa học công nghệ và chuyển đổi số; cải cách thủ tục hành chính; phát triển các đầu tàu và liên kết vùng; chuyển đổi xanh; xử lý các dự án tồn đọng.
Nếu được triển khai hiệu quả, 5 động lực này có thể đóng góp tổng cộng khoảng 3 điểm phần trăm tăng trưởng. Đây cũng là những yếu tố gắn trực tiếp với khả năng nâng chất lượng tăng trưởng của thành phố trong giai đoạn mới.
Theo TS Cấn Văn Lực, động lực tăng trưởng của TP.HCM phụ thuộc vào khả năng cải thiện đồng thời 5 trụ cột gồm khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; nguồn nhân lực; kết cấu hạ tầng; huy động, phân bổ nguồn lực tài chính; chất lượng thể chế và hiệu quả thực thi.
Ông cho rằng cần phân biệt rõ giữa “mô hình tăng trưởng” và “mô hình phát triển”. Nếu mô hình tăng trưởng chủ yếu tập trung vào “lượng”, thể hiện qua GDP, thu nhập hay việc làm và thường được nhìn trong ngắn, trung hạn, thì mô hình phát triển phải hướng đến “chất” và tính bền vững trong dài hạn.
“Mô hình tăng trưởng chỉ mới là điều kiện cần, còn phát triển bền vững và bao trùm mới là điều kiện đủ”, ông nói.
Từ góc nhìn này, TS Cấn Văn Lực đề xuất TP.HCM tập trung vào các chuyển đổi lớn, trong đó chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng và chuyển đổi lao động phải trở thành những động lực quan trọng của giai đoạn phát triển mới.

Dư địa tăng trưởng phải được kích hoạt ngay
Không chỉ Nhà nước phải tạo cú hích, cộng đồng doanh nghiệp cũng đứng trước yêu cầu thay đổi cách tiếp cận tăng trưởng.
Ông Nguyễn Ngọc Hòa, Chủ tịch HUBA, cho rằng mục tiêu tăng trưởng hai con số vừa là cơ hội, vừa là thách thức lớn đối với cộng đồng doanh nghiệp. Để đạt mục tiêu này cần sự hợp lực giữa doanh nghiệp, Nhà nước và toàn xã hội.
Theo ông Hòa, quá trình chuyển đổi sang mô hình chính quyền hai cấp cần được triển khai nhanh, phân định rõ trách nhiệm giữa cấp thành phố và phường, xã.
Khi thủ tục, quy trình và khả năng tiếp cận đất đai, nguồn lực được tháo gỡ, doanh nghiệp sẽ thuận lợi hơn trong triển khai dự án.
Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp cũng phải tự điều chỉnh chiến lược, tăng cường đào tạo nhân lực, chủ động chuyển đổi số và chuyển đổi xanh để thích ứng với yêu cầu mới của thị trường.
Ông Lê Hữu Nghĩa, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Thương mại Xây dựng Lê Thành, cho rằng để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, bên cạnh sự tăng trưởng của doanh nghiệp, TP.HCM còn nhiều dư địa cần khai thác.
Điểm quan trọng là các giải pháp không thể chỉ dừng ở định hướng. Theo ông Nghĩa, cần triển khai ngay từ hôm nay để tạo kết quả trong giai đoạn 2027-2028. Doanh nghiệp cũng kỳ vọng tình hình kinh doanh từ nay đến cuối năm sẽ tiếp tục cải thiện.
Một dư địa đáng chú ý của TP.HCM nằm ở khu vực dịch vụ, đặc biệt là du lịch. Ông Nguyễn Quốc Kỳ, Chủ tịch Hội đồng quản trị Vietravel, cho rằng dư địa của du lịch không chỉ nằm ở việc tăng lượng khách mà quan trọng hơn là nâng cao giá trị từ hoạt động du lịch.
Theo ông, thành phố cần đầu tư mạnh hơn vào sản phẩm du lịch, tour tuyến, vui chơi giải trí, kinh tế ban đêm và khai thác nguồn lực văn hóa, ẩm thực địa phương.
Kinh tế ban đêm được kỳ vọng tạo ra giá trị lớn nhưng đến nay chưa có địa phương nào chứng minh được hiệu quả rõ nét. Nhiều nơi vẫn thiếu nguồn lực để xây dựng các sản phẩm văn hóa, ẩm thực chuyên nghiệp, khiến hoạt động còn manh mún và thiếu ổn định.