TS. Nguyễn Đình Cung: Điểm nghẽn lớn nhất của hộ kinh doanh là tâm lý ‘sợ làm sai’
TS. Nguyễn Đình Cung cho rằng Việt Nam đang có những điều kiện thuận lợi chưa từng có để thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, nếu không giải quyết được tâm lý “lo và sợ” của người kinh doanh, cải cách dù nhiều cũng khó tạo ra thay đổi thực chất.
Tại hội thảo “Hộ kinh doanh và động lực tăng trưởng” sáng 21/8, theo TS. Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, về mặt chủ trương và chính sách, chưa bao giờ môi trường cho kinh tế tư nhân phát triển có nhiều điều kiện thuận lợi như hiện nay. Hàng loạt nghị quyết, chính sách mới đã thể hiện sự thay đổi rõ rệt trong nhận thức về vai trò của khu vực tư nhân và hộ kinh doanh.
Tuy nhiên, vấn đề không chỉ nằm ở việc ban hành thêm chính sách hỗ trợ. “Chúng ta cải cách bao nhiêu thứ nhưng nếu người dân chưa có niềm tin thì cũng khó thấy được thay đổi”.
Ông đặc biệt lưu ý đến hai từ được nhắc đi nhắc lại trong các trao đổi tại hội thảo: “lo” và “sợ”.
Theo ông, đây không đơn thuần là cảm xúc mà phản ánh khá đúng tâm trạng của một bộ phận hộ kinh doanh hiện nay. “Khi người ta còn lo và sợ thì người ta làm sao mà đi kinh doanh được?”, ông đặt vấn đề.

Không phải không muốn làm lớn, mà sợ làm sai
TS. Nguyễn Đình Cung cho rằng điều đáng chú ý là nhiều hộ kinh doanh không phải không muốn phát triển, cũng không phải không muốn làm đúng. Ngược lại, chính mong muốn làm đúng khiến họ lo sợ trước những quy định mà họ cảm thấy chưa đủ rõ ràng, chưa đủ dễ dự đoán.
Theo ông, khi một người kinh doanh luôn phải đặt câu hỏi liệu mình có làm sai hay không, có bị xử lý hay không, thì rất khó kỳ vọng họ mạnh dạn đầu tư, mở rộng quy mô.
“Vấn đề ở đây không nằm ở lời tuyên bố hay lời nói rằng chúng ta bảo vệ người kinh doanh. Người dân phải thực sự tin rằng quyền kinh doanh và tài sản của họ được bảo vệ”, ông nói.
Từ góc nhìn này, TS. Nguyễn Đình Cung cho rằng nền tảng của môi trường kinh doanh phải bắt đầu từ quyền tự do kinh doanh và quyền tài sản.
Người dân phải được kinh doanh những gì pháp luật không cấm; tài sản và thành quả kinh doanh phải được bảo vệ một cách chắc chắn. Quan trọng hơn, những nguyên tắc đó phải được thể hiện trong thực tế chứ không chỉ dừng ở chính sách.
“Nói tôi đang bảo vệ thì chưa đủ, mà người dân phải tin rằng họ được bảo vệ”, ông nhấn mạnh.
Một vấn đề khác được TS. Nguyễn Đình Cung lưu ý là cách nhìn đối với hộ kinh doanh. Theo ông, hộ kinh doanh cũng là một loại hình kinh doanh và việc người dân lựa chọn hộ kinh doanh hay doanh nghiệp phải xuất phát từ nhu cầu và điều kiện thực tế của họ. Không nên mặc định rằng cứ hộ kinh doanh có quy mô lớn là phải chuyển thành doanh nghiệp bằng mọi giá.
“Đây là một loại hình kinh doanh và các loại hình khác như doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần… cũng là những lựa chọn để người dân lựa chọn loại hình phù hợp nhất”, ông phân tích.
Theo TS. Nguyễn Đình Cung, điều quan trọng là phải tạo ra môi trường để hộ kinh doanh phát triển, sau đó khi quy mô, nhu cầu và điều kiện kinh doanh thay đổi, họ sẽ có động lực tự nhiên để chuyển đổi.
Khi trở thành doanh nghiệp và thấy được những lợi ích thực tế như khả năng tiếp cận vốn, thị trường, đối tác, quản trị và mở rộng hoạt động, hộ kinh doanh sẽ có lý do để chuyển đổi.
“Đừng bắt người ta chuyển đổi chỉ vì quy mô. Hãy tạo cơ chế để khi họ lớn lên, họ thấy chuyển đổi sang doanh nghiệp có lợi hơn”, ông nói.
“Điểm nghẽn của điểm nghẽn” nằm ở thực thi
TS. Nguyễn Đình Cung cũng bày tỏ lo ngại về mục tiêu phát triển số lượng doanh nghiệp trong những năm tới.
Theo ông, để đạt mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030, mỗi năm Việt Nam phải có khoảng 200.000 doanh nghiệp gia nhập thị trường và quan trọng hơn là phải có số lượng đủ lớn doanh nghiệp tồn tại, phát triển và mở rộng quy mô.
Trong khi đó, nếu số doanh nghiệp thành lập mới không đủ lớn, đồng thời số rút khỏi thị trường vẫn cao, thì tốc độ tích lũy doanh nghiệp sẽ rất khó đáp ứng yêu cầu.
“Không chỉ nhìn vào số doanh nghiệp thành lập mới. Phải nhìn cả số doanh nghiệp còn tồn tại và phát triển”, ông lưu ý.
Theo TS. Nguyễn Đình Cung, nếu doanh nghiệp mới thành lập nhưng nhanh chóng rút khỏi thị trường, mục tiêu về số lượng doanh nghiệp sẽ không có nhiều ý nghĩa. Đặc biệt, nếu nền kinh tế thiếu một lớp doanh nghiệp vừa và nhỏ đủ lớn, việc chỉ kỳ vọng một số doanh nghiệp lớn tăng trưởng mạnh sẽ không tạo ra nền tảng rộng cho tăng trưởng.
Để giải quyết những điểm nghẽn này, TS. Nguyễn Đình Cung đề xuất bốn yêu cầu.
Thứ nhất, pháp luật phải chuyển mạnh từ tư duy “quản lý là chủ yếu” sang kiến tạo và thúc đẩy phát triển. Thứ hai, quy định pháp luật phải rõ ràng, cụ thể và có khả năng dự đoán, để người dân và doanh nghiệp biết trước mình được làm gì, phải làm gì và ranh giới nào là vi phạm.
Thứ ba, phải bảo đảm các nguyên tắc về quyền tự do kinh doanh và quyền tài sản, tạo nền tảng để người dân yên tâm đầu tư. Thứ tư, quản lý nhà nước cần chuyển mạnh sang phương thức dựa trên tiêu chuẩn, quy chuẩn và mức độ rủi ro, thay vì can thiệp quá sâu vào hoạt động của người kinh doanh.
“Dứt khoát phải từ bỏ tư duy quản lý”, TS. Nguyễn Đình Cung nhấn mạnh.
Điều TS. Nguyễn Đình Cung đặc biệt nhấn mạnh là khoảng cách giữa chính sách và thực tế thực thi. Theo ông, Việt Nam hiện có nhiều quyết sách rất thuận lợi cho kinh tế tư nhân, nhưng nếu những thay đổi đó không đi vào đời sống, niềm tin của người dân sẽ không thể được củng cố.
Bởi vậy, cải cách lần này không chỉ là sửa một vài quy định hay bổ sung thêm một chính sách hỗ trợ hộ kinh doanh.
Điều cần thay đổi sâu hơn là cách Nhà nước nhìn và tương tác với người kinh doanh.
“Điểm nghẽn của điểm nghẽn” chính là khâu thực thi, ông nhận định. Nếu pháp luật đã mở nhưng thực thi vẫn khiến người dân lo sợ, thì mục tiêu khơi thông nguồn lực tư nhân sẽ khó đạt được.
Từ đó, TS. Nguyễn Đình Cung cho rằng nhiệm vụ quan trọng nhất hiện nay không chỉ là ban hành chính sách mới, mà phải thu phục lại niềm tin của người kinh doanh.