Bị sa thải khi đang nhận lương 69 triệu/tháng, nhân viên ngân hàng ở TP.HCM đòi 1,6 tỷ bồi thường: Tòa nói gì?
Sau khi bị sa thải, nhân viên này đã khởi kiện ngân hàng, yêu cầu được xin lỗi công khai, nhận trở lại làm việc và bồi thường hơn 1,6 tỷ đồng.
Theo hồ sơ vụ án, ông Bùi Quốc N. bắt đầu làm việc tại Ngân hàng TMCP B. (TP.HCM) từ ngày 26/6/2018 theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Mức lương thực lĩnh của ông được xác định hơn 69 triệu đồng/tháng, trong khi mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội là 36 triệu đồng/tháng.
Ngày 10/9/2023, ngân hàng tạm đình chỉ công tác ông N. để xác minh những vấn đề liên quan đến công việc. Hai tháng sau, Hội đồng kỷ luật được tổ chức họp để xem xét vụ việc. Đến ngày 8/12/2023, ngân hàng ban hành quyết định xử lý kỷ luật bằng hình thức sa thải.
Không đồng tình, ông N. cho rằng trình tự xử lý kỷ luật có nhiều vấn đề và khởi kiện yêu cầu ngân hàng công khai xin lỗi, nhận ông trở lại làm việc, đồng thời bồi thường theo quy định.
Ban đầu, ông yêu cầu hơn 138 triệu đồng tiền lương và phụ cấp tương ứng 2 tháng do cho rằng mình bị sa thải trái pháp luật. Ngoài ra, ông yêu cầu hơn 768,8 triệu đồng tiền lương trong thời gian không được làm việc tính đến ngày 28/8/2024, cùng các khoản liên quan đến bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.
Sau đó, ông rút một phần yêu cầu liên quan đến thời gian bị tạm đình chỉ và điều chỉnh yêu cầu bồi thường. Theo bản án sơ thẩm được dẫn lại, tổng số tiền ông N. yêu cầu ngân hàng thanh toán vẫn lên tới hơn 1,6 tỷ đồng.

Tại phiên phúc thẩm, ông N. tiếp tục kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Ông cho rằng cuộc họp xử lý kỷ luật không được lập và thông qua biên bản đúng quy định, biên bản không có chữ ký của người bị xử lý; người chủ trì Hội đồng kỷ luật không đủ tư cách. Ông cũng cho rằng việc tổ chức họp trực tuyến không phù hợp và ngân hàng chưa chứng minh được lỗi của mình.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định ngân hàng đã có quyết định thành lập, triệu tập Hội đồng kỷ luật, trong đó thể hiện thời gian, địa điểm, hình thức và thành phần tham dự. Các thông tin này được gửi cho ông N. qua thư điện tử và trực tiếp, đồng thời ông đã tham dự cuộc họp.
Theo tòa, bà H. được xác định là Chủ tịch Hội đồng kỷ luật theo ủy quyền của Chủ tịch Hội đồng quản trị nên có đủ tư cách. Việc họp trực tuyến cũng có đầy đủ thành viên theo quyết định thành lập Hội đồng.
Tòa đồng thời cho rằng ông N. không đưa ra được căn cứ chứng minh hình thức họp trực tuyến vi phạm pháp luật hoặc ông từng yêu cầu tổ chức họp trực tiếp nhưng bị từ chối. Vì vậy, các lập luận về thủ tục này không có cơ sở để chấp nhận.
Điểm đáng chú ý trong vụ tranh chấp nằm ở nội dung vi phạm mà ngân hàng sử dụng làm căn cứ xử lý kỷ luật. Theo hồ sơ được tòa xem xét, ông N. bị xác định đã phê duyệt giá trị một số tài sản bảo đảm cao hơn đáng kể so với giá thị trường. Có trường hợp tài sản được định giá nhưng thực tế không có đường vào như thông tin thể hiện trong hồ sơ khảo sát trên hệ thống.
Đáng chú ý, trong bản giải trình, ông N. trình bày việc đối với các khoản vay cá nhân của mình và vợ, ông đã nhờ bộ phận thẩm định hỗ trợ định giá cao hơn thị trường tại thời điểm thẩm định để có thể vay lại số tiền đã mua tài sản. Ông cũng thừa nhận việc phê duyệt giá trị tài sản cao hơn thị trường nhằm hỗ trợ nhân viên Phòng Thẩm định giá phía Nam vay vốn.
Tòa cho rằng những hành vi này vi phạm nội quy lao động và quy trình nghiệp vụ của ngân hàng, có thể làm gia tăng rủi ro tín dụng, phát sinh nợ xấu, nguy cơ thất thoát vốn, đồng thời ảnh hưởng đến hoạt động và uy tín của tổ chức tín dụng.
Từ các căn cứ trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông N., giữ nguyên bản án sơ thẩm. Như vậy, yêu cầu nhận lại việc, xin lỗi công khai và bồi thường hơn 1,6 tỷ đồng của người lao động đều không được tòa chấp nhận.
Bài viết dựa trên Bản án số 87/2026 của TAND TP.HCM.
