Chính phủ yêu cầu địa phương tập trung điều hành, xây dựng kịch bản để tăng trưởng GDP trên 10%
Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2026 từ 10% trở lên, yêu cầu các địa phương xây dựng kịch bản tăng trưởng chi tiết.

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 01 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026.
Nghị quyết nêu, năm 2025, trong bối cảnh có nhiều khó khăn, thách thức từ bên ngoài và thiên tai, bão lũ diễn biến phức tạp, vượt mức lịch sử, chúng ta đã chủ động, sáng tạo, quyết liệt, kịp thời, hiệu quả trong chỉ đạo, điều hành, thích ứng linh hoạt với tình hình, "xoay chuyển tình thế, chuyển đổi trạng thái".
Nhờ đó, tình hình kinh tế - xã hội năm 2025 tiếp tục đạt được nhiều kết quả ấn tượng, rất đáng trân trọng, tự hào, được nhân dân và cộng đồng quốc tế đánh giá cao; tiếp tục tạo xu thế đổi mới, tạo đà phát triển nhanh, bền vững, bao trùm, toàn diện bước vào kỷ nguyên mới.
Nghị quyết nêu 2026 là năm có ý nghĩa quan trọng, khởi đầu giai đoạn phát triển mới. Tuy nhiên, bối cảnh quốc tế được dự báo tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, yếu tố trong nước có nhiều thuận lợi và thách thức đan xen.
Chính phủ yêu cầu các cấp, ngành, địa phương tập trung điều hành để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP cả nước 2026 từ 10% trở lên gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn.
Chính phủ yêu cầu các tỉnh, thành phố xây dựng kịch bản tăng trưởng của ngành, lĩnh vực hằng quý, cả năm 2026; các địa phương rà soát, xây dựng kịch bản tăng trưởng GRDP năm 2026 theo 3 khu vực kinh tế, 21 ngành cấp 1 và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm theo từng quý, gửi Bộ Tài chính trong tháng 2/2026 để tổng hợp, theo dõi.
UBND các tỉnh, thành phố chỉ đạo nghiên cứu, rà soát các nguồn lực, động lực, năng lực mới cho tăng trưởng, giải pháp thực hiện, báo cáo HĐND cùng cấp trong tháng 2/2026 để điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng GRDP của địa phương trong trường hợp HĐND đã quyết nghị mục tiêu tăng trưởng thấp hơn mục tiêu tại Nghị quyết này.
Đồng thời, Theo Nghị quyết, Chính phủ yêu cầu phát huy sức mạnh đoàn kết, không ngừng đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, tự tin, tự lực, tự cường, tự chủ chiến lược, quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt theo chủ đề "Kỷ cương trách nhiệm; chủ động hiệu quả; đổi mới sáng tạo; tăng tốc đột phá; tăng trưởng bền vững".
Chính phủ nhấn mạnh việc siết kỷ luật, kỷ cương, hoàn thiện thể chế gắn với tăng phân cấp, phân quyền, đề cao trách nhiệm người đứng đầu, chống tham nhũng, lãng phí. Bên cạnh đó, các bộ ngành cần tiếp tục cắt giảm thủ tục, cải thiện môi trường kinh doanh và đẩy mạnh đầu tư hạ tầng chiến lược như giao thông, năng lượng.
Tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2025, triển khai công tác năm 2026 diễn ra mới đây, Lãnh đạo TP. Hà Nội và TP.HCM đều đã cam kết trước Chính phủ, tăng trưởng GRDP năm 2026 phấn đấu từ 10% trở lên, trong đó Hà Nội là hơn 11%, TP.HCM hơn 10%. Bên cạnh 2 thành phố lớn trên, Phú Thọ và Quảng Ngãi cũng cam kết đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế trên 10% năm nay.
Theo số liệu do Cục Thống kê, GDP cả nước năm 2025 tăng 8,02% so với năm 2024. Mức này chỉ thấp hơn tốc độ tăng năm 2022 (8,12%) trong 15 năm qua. Trong đó, tốc độ tăng GRDP của các địa phương dao động 5,84-11,89%.
Cả nước có 20 tỉnh, thành ghi nhận GRDP tăng từ 8% trở lên, trong đó 6 địa phương tốc độ tăng trưởng đạt trên 10%. Quảng Ninh, Hải Phòng cao nhất, lần lượt là 11,89% và 11,81%. Ngoài ra, nhóm này còn có Ninh Bình, Phú Thọ, Bắc Ninh và Quảng Ngãi.
Dưới đây là tăng trưởng GRDP năm 2025 của các địa phương:
| Tỉnh/Thành phố | Tăng trưởng (%) | Tỷ trọng đóng góp vào tăng trưởng (%) |
|---|---|---|
| Quảng Ninh | 11.89 | 3.86 |
| Hải Phòng | 11.81 | 8.58 |
| Ninh Bình | 10.65 | 3.28 |
| Phú Thọ | 10.52 | 3.82 |
| Bắc Ninh | 10.27 | 5.32 |
| Quảng Ngãi | 10.02 | 1.53 |
| Đồng Nai | 9.63 | 5.49 |
| Tây Ninh | 9.52 | 2.80 |
| Đà Nẵng | 9.18 | 2.52 |
| Hà Tĩnh | 8.78 | 0.97 |
| Hưng Yên | 8.78 | 2.43 |
| Huế | 8.50 | 0.64 |
| Nghệ An | 8.44 | 1.71 |
| An Giang | 8.39 | 2.17 |
| Thanh Hoá | 8.27 | 2.33 |
| Hà Nội | 8.16 | 12.94 |
| Lào Cai | 8.14 | 0.92 |
| Lạng Sơn | 8.06 | 0.37 |
| Sơn La | 8.03 | 0.53 |
| Quảng Trị | 8.00 | 0.82 |
| TP.HCM | 7.53 | 23.11 |
| Lai Châu | 7.52 | 0.21 |
| Đồng Tháp | 7.38 | 1.83 |
| Điện Biên | 7.34 | 0.22 |
| Cần Thơ | 7.23 | 1.90 |
| Cà Mau | 7.23 | 1.11 |
| Cao Bằng | 7.22 | 0.17 |
| Gia Lai | 7.20 | 1.49 |
| Khánh Hoà | 7.11 | 1.20 |
| Đắk Lắk | 6.68 | 1.16 |
| Lâm Đồng | 6.42 | 1.66 |
| Tuyên Quang | 6.40 | 0.50 |
| Thái Nguyên | 6.33 | 1.05 |
| Vĩnh Long | 5.84 | 1.37 |
