Đến năm 2030, Việt Nam sẽ xây dựng 10 trung tâm du lịch trọng điểm, 20 khu du lịch quốc gia
Theo Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị, Việt Nam đặt mục tiêu phát triển du lịch theo hướng chất lượng cao, xanh, thông minh, đóng góp trực tiếp 10-12% GDP vào năm 2030, đồng thời hình thành hệ thống trung tâm, khu du lịch có sức cạnh tranh quốc tế.
Sáng 3/9, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị.
Tại hội nghị, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà đã trình bày những nội dung cốt lõi của Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị khóa XIV về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới.

Theo Phó Thủ tướng, thời gian qua, ngành du lịch đã có bước phát triển tích cực, tương đối toàn diện, ngày càng đóng góp rõ nét vào phát triển kinh tế - xã hội, tạo việc làm, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đồng thời góp phần bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa và quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam.
Năm 2025, Việt Nam đón gần 21,2 triệu lượt khách quốc tế, tăng 20,4% so với năm trước và 137 triệu lượt khách nội địa. Trong 8 tháng năm 2026, lượng khách quốc tế đạt gần 16 triệu lượt, hướng tới mục tiêu đón 25 triệu lượt khách quốc tế trong cả năm.
Theo xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế thế giới, năng lực cạnh tranh du lịch của Việt Nam đã cải thiện đáng kể, tăng 16 bậc, từ vị trí 75/141 quốc gia, nền kinh tế năm 2015 lên hạng 59/119 vào năm 2025. Việt Nam cũng vươn từ vị trí thứ 5 lên thứ 3 trong khu vực ASEAN về lượng khách quốc tế, chỉ sau Malaysia và Thái Lan.
Năm 2025, tổng thu từ khách du lịch đạt khoảng 1 triệu tỷ đồng, tăng 19% so với năm 2024 và cao hơn gần 38% so với năm 2019. Ngành du lịch đóng góp trực tiếp gần 8,8% GDP, tạo khoảng 4,41 triệu việc làm, tương đương 8,5% tổng lực lượng lao động.
Tuy nhiên, Phó Thủ tướng nhận định những kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của đất nước. Du lịch phát triển chưa thực sự bền vững; nhận thức về vai trò của du lịch giữa các ngành, địa phương còn chưa đồng đều; liên kết liên ngành, liên vùng còn hạn chế. Bên cạnh đó, nguồn lực đầu tư chưa đáp ứng yêu cầu, sản phẩm du lịch còn thiếu tính đa dạng, chiều sâu và giá trị gia tăng cao.
Theo Nghị quyết 26, mục tiêu tổng quát là phát triển du lịch Việt Nam theo hướng chất lượng cao, thông minh, xanh, sáng tạo, giàu bản sắc văn hóa; có năng lực cạnh tranh trong khu vực và quốc tế, tạo sức lan tỏa tới nhiều ngành, lĩnh vực khác. Đồng thời, gắn phát triển du lịch với phát triển công nghiệp văn hóa, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, nâng cao vị thế, uy tín và sức mạnh mềm quốc gia.
Về mục tiêu cụ thể, đến năm 2030, Bộ Chính trị định hướng du lịch đóng góp trực tiếp 10-12% GDP; đón 45-50 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 160 triệu lượt khách nội địa; tổng thu từ khách du lịch đạt 80-90 tỷ USD.
Cũng trong giai đoạn này, Việt Nam hướng tới hình thành 3 cực tăng trưởng du lịch gồm Hà Nội, TP.HCM và Đà Nẵng; xây dựng 10 trung tâm du lịch trọng điểm, 20 khu du lịch quốc gia; phát triển 15 tập đoàn, tổng công ty du lịch có thương hiệu mạnh, đủ khả năng cạnh tranh quốc tế; tạo khoảng 2,3 triệu việc làm trực tiếp và 3,5 triệu việc làm gián tiếp.
Đến năm 2045, Nghị quyết 26 định hướng ngành du lịch đóng góp trực tiếp 14-15% GDP; đón 70 triệu lượt khách quốc tế; đưa Việt Nam vào nhóm 30 quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế giới, trở thành điểm đến hấp dẫn, chất lượng cao, đẳng cấp và mang đậm bản sắc Việt Nam.
8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp tạo đột phá cho ngành du lịch
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, Nghị quyết đề ra nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm.
Trước hết là đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức và trách nhiệm trong phát triển du lịch, tập trung vào 4 chuyển đổi lớn: Xác định du lịch là ngành kinh tế tổng hợp trong mô hình tăng trưởng và không gian phát triển quốc gia; chuyển từ phát triển theo chiều rộng, dựa vào số lượng và khai thác tài nguyên sang phát triển theo chiều sâu, chú trọng chất lượng, hiệu quả, tính bền vững và giá trị gia tăng; đổi mới phương thức quản lý từ đơn lẻ sang quản trị hệ sinh thái, chuỗi giá trị; đồng thời lồng ghép mục tiêu phát triển du lịch vào các chiến lược, quy hoạch phát triển, phát huy vai trò của doanh nghiệp, hiệp hội và cộng đồng dân cư.
Về thể chế, chính sách, Nghị quyết yêu cầu hoàn thiện các cơ chế đột phá cho những mô hình du lịch mới, kinh tế chia sẻ, kinh tế nền tảng số và các dịch vụ mới; có chính sách hỗ trợ về đầu tư, đất đai, tài chính, thuế, mặt bằng. Chính sách thị thực, xuất nhập cảnh tiếp tục được đổi mới theo hướng mở, thuận lợi, linh hoạt, nâng cao sức cạnh tranh nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia.
Một nhiệm vụ quan trọng khác là phát triển đồng bộ hạ tầng và các trung tâm du lịch có sức cạnh tranh. Nghị quyết định hướng chuyển từ đầu tư hạ tầng đơn lẻ sang phát triển hệ sinh thái, trung tâm và cực tăng trưởng du lịch; tăng cường kết nối đa phương thức từ các cửa ngõ quốc tế tới các điểm đến. Việt Nam cũng hướng tới phát triển hạ tầng phục vụ tàu du lịch biển lớn, trở thành điểm đến quan trọng của du lịch tàu biển trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Cùng với đó, Việt Nam sẽ thu hút các nhà đầu tư chiến lược, tập đoàn lớn tham gia phát triển các dự án, tổ hợp du lịch quy mô lớn, chất lượng cao; khai thác hiệu quả lợi thế của Hà Nội, TP. HCM, Đà Nẵng, các đô thị di sản và từng bước đưa Phú Quốc trở thành cực tăng trưởng du lịch mới có sức cạnh tranh quốc tế.
Về thị trường và sản phẩm, yêu cầu đặt ra là chuyển từ thu hút khách theo số lượng sang nâng cao chất lượng, giá trị và hiệu quả. Ngành du lịch cần phát huy các giá trị văn hóa, di sản, thiên nhiên, ẩm thực để tạo ra những sản phẩm có bản sắc, trải nghiệm khác biệt; tăng cường liên kết với các ngành công nghiệp văn hóa như điện ảnh, âm nhạc, giải trí, thời trang và kinh tế đêm.
Công tác xúc tiến, quảng bá và xây dựng thương hiệu cũng được đổi mới theo hướng thống nhất, chuyên nghiệp, số hóa và có trọng tâm. Dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo được xác định là cơ sở để tiếp cận thị trường, quản trị điểm đến; đồng thời đẩy mạnh ngoại giao văn hóa, điện ảnh, truyền thông quốc tế và các hình thức quảng bá số để nâng cao vị thế thương hiệu du lịch Việt Nam.
Nghị quyết đồng thời đặt yêu cầu đổi mới căn bản đào tạo nguồn nhân lực theo nhu cầu thị trường và chuẩn quốc tế; tăng cường liên kết giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp; hình thành các tập đoàn du lịch Việt Nam có thương hiệu, tạo điều kiện để doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Cộng đồng phải trở thành chủ thể tham gia và hưởng lợi từ phát triển du lịch, nhất là tại vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và địa bàn đồng bào dân tộc thiểu số.
Khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là một trong những đột phá. Mục tiêu là hình thành hệ sinh thái du lịch thông minh, cơ sở dữ liệu quốc gia có khả năng liên thông, nền tảng số tích hợp đa dịch vụ; số hóa điểm đến, bản đồ số, vé điện tử, trợ lý ảo đa ngôn ngữ; ứng dụng IoT, AI trong quản lý, sử dụng năng lượng và giám sát môi trường.
Cuối cùng, Nghị quyết nhấn mạnh hiện đại hóa quản trị, xây dựng các điểm đến xanh, thông minh, an toàn và bền vững; tăng cường năng lực quản lý sức chứa, phân luồng khách, cảnh báo sớm, quản trị rủi ro và ứng phó khủng hoảng để nâng cao khả năng chống chịu của ngành trước các biến động lớn, bảo đảm phát triển an toàn, bền vững.
