Vĩ mô

Từ nhóm 20 nước nghèo nhất thế giới, Việt Nam viết nên kỳ tích 40 năm đổi mới trên hành trình tới quốc gia thu nhập cao

Mai Anh 03/09/2026 - 15:16

Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam bước vào nhóm thu nhập trung bình cao, nhưng cần động lực mới để tiến tới quốc gia phát triển.

594074490_1616458869319398_445412281847297656_n.jpg
Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã bước sang nhóm thu nhập trung bình cao

Nhìn lại 40 năm kể từ Đại hội VI năm 1986, công cuộc đổi mới đã tạo bước ngoặt, làm thay đổi quy mô, sức mạnh nền kinh tế và vị thế quốc tế của Việt Nam. Hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam phải đổi mới mô hình tăng trưởng, hình thành động lực mới. Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển đã đặt định hướng chiến lược cho quá trình này.

Chia sẻ trong talkshow "Sau 40 năm đổi mới, đâu là mô hình đưa Việt Nam bứt phá vào kỷ nguyên mới?" GS.TS Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, cho rằng thành quả 40 năm Đổi mới là nền tảng quan trọng, nhưng mô hình tăng trưởng hiện nay cũng đang bộc lộ những giới hạn cần tháo gỡ.

40 năm đổi mới và bước chuyển mới của Việt Nam

Theo GS.Hoàng Văn Cường, đổi mới năm 1986 đã giải phóng sức sản xuất, tạo bước ngoặt lớn và được thế giới ghi nhận. Trước đổi mới, Việt Nam thuộc nhóm những quốc gia nghèo nhất thế giới,

Gia đoạn năm 1975-1985, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam chỉ dao động từ 125 đến 200 USD/năm và xếp trong nhóm 20 nước nghèo nhất thế giới, tỉ lệ lạm phát thời điểm tháng 12/1986 lên đến 774,7%.

Sau bốn thập kỷ, nền kinh tế đã vươn lên vị trí thứ 32-33 thế giới, với kim ngạch xuất khẩu hơn 400 tỷ đến gần 500 tỷ USD mỗi năm. Từ tháng 7/2026, Ngân hàng Thế giới công bố Việt Nam bước vào nhóm các nước có thu nhập trung bình cao. Tỷ lệ nghèo đa chiều toàn diện hiện còn 2,95%, bao phủ thu nhập, học hành, y tế và chỗ ở.

Nghị quyết số 19-NQ/TW xác định đến năm 2030 hoàn thành các nền tảng cho mô hình phát triển mới; đến năm 2035 cơ bản chuyển đổi sang mô hình đất nước tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập, hình thành đồng bộ bảy mô hình thành phần trên các lĩnh vực. Đến năm 2045, Việt Nam hướng tới quốc gia phát triển, thu nhập cao, dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đồng bộ, đồng thời nằm trong nhóm 10 quốc gia dẫn đầu châu Á về trí tuệ nhân tạo.

Theo ông Cường, mô hình phát triển mới giống như xây dựng một ngôi nhà hoàn chỉnh. Đổi mới phải bao quát kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường, quốc phòng - an ninh, đối ngoại và quản trị quốc gia; trong đó mô hình tăng trưởng kinh tế là trụ cột nền móng.

GS. Hoàng Văn Cường nhấn mạnh cần thay đổi cách nhìn về văn hóa, từ lĩnh vực tiêu dùng, tiêu tốn nguồn lực thành nguồn lực phát triển bền vững, có thể tạo giá trị kinh tế và tiềm lực quốc gia thông qua công nghiệp văn hóa. Quản trị môi trường cũng cần chuyển từ bảo vệ đơn thuần sang chủ động, tạo sức hấp dẫn cho đầu tư xanh và đáp ứng tiêu chuẩn ESG.

513003cffdef4220a7e26a7679f27b8a-115981.png
GS.TS Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam

Thoát bẫy thu nhập trung bình

Thách thức lớn trên chặng đường tới năm 2045 là vượt qua bẫy thu nhập trung bình. Nghị quyết số 19-NQ/TW chỉ ra tăng trưởng hiện vẫn phụ thuộc nhiều vào vốn, tài nguyên và lao động chi phí thấp, trong khi năng suất lao động, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo còn hạn chế.

Theo GS. Hoàng Văn Cường, dấu hiệu rõ nhất của giới hạn mô hình cũ là nền kinh tế vẫn chủ yếu gia công, lắp ráp, trong khi các khâu thiết kế và dịch vụ tiêu thụ, tiếp cận thị trường có giá trị cao hơn chưa được nắm giữ tương xứng.

Dù kim ngạch xuất khẩu hằng năm rất lớn, ông Cường cho biết giá trị để lại cho Việt Nam chỉ khoảng 20%, phần lớn còn lại thuộc về doanh nghiệp nước ngoài. Ông cảnh báo nếu tiếp tục dựa vào lao động giá rẻ và gia công lắp ráp, Việt Nam có nguy cơ “tăng trưởng hộ” các nước khác và khó thoát bẫy thu nhập trung bình.

Với văn hóa, ông cho rằng cần chuyển từ cách nhìn văn hóa là lĩnh vực tiêu dùng, tiêu tốn nguồn lực sang coi đây là nguồn lực phát triển bền vững, có thể tạo giá trị kinh tế và tiềm lực quốc gia thông qua công nghiệp văn hóa. Quản trị môi trường cũng cần chuyển từ bảo vệ đơn thuần sang chủ động, tạo sức hấp dẫn cho đầu tư xanh và đáp ứng tiêu chuẩn ESG.

Giáo sư cũng lưu ý, AI hay chuyển đổi số không tự động tạo ra năng suất nếu thiếu sự đồng bộ của hệ sinh thái. Công nghệ phải đi cùng thay đổi tư duy quản trị, năng lực người lao động và môi trường giao dịch; nếu doanh nghiệp số hóa nội bộ nhưng bên ngoài vẫn phải in hồ sơ giấy để ký, đóng dấu thì hiệu quả sẽ bị hạn chế.

Để thoát bẫy thu nhập trung bình, theo ông, Việt Nam phải nâng năng suất bằng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, với mục tiêu đưa tỷ lệ đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế lên trên 55% vào năm 2030.

Năng suất nhân tố tổng hợp (TFP - Total Factor Productivity) là chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng đồng thời cả vốn và lao động để tạo ra sản phẩm trong nền kinh tế.

Nhà nước kiến tạo, doanh nghiệp dẫn dắt

Để nâng năng lực nội tại, GS. Hoàng Văn Cường cho rằng vai trò của Nhà nước có ý nghĩa quyết định. Kinh nghiệm của Hàn Quốc, Nhật Bản và Singapore cho thấy tầm quan trọng của mô hình nhà nước kiến tạo.

Để hình thành tối thiểu 10 doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn trong nước vào năm 2030, Nhà nước cần hỗ trợ qua cơ chế đặt hàng. Tuy nhiên, ông Hoàng Văn Cường lưu ý việc đặt hàng phải dựa trên tiêu chí khách quan, minh bạch, tránh tạo ra doanh nghiệp “sân sau” được ưu ái bất thường. Có thể đặt hàng cho hai hoặc ba doanh nghiệp, đồng thời tăng cường giám sát. Doanh nghiệp đầu đàn phải kết nối, dẫn dắt mạng lưới doanh nghiệp trong nước, hình thành chuỗi liên kết, tránh độc quyền hoặc bắt tay với tập đoàn nước ngoài để triệt tiêu doanh nghiệp nội địa.

Trong thu hút FDI, yêu cầu đặt ra là ngoại lực càng lớn thì nội lực phải lớn lên tương ứng. Việt Nam cần thay đổi cách thu hút vốn, không chỉ ưu tiên dự án có vốn lớn hoặc sử dụng nhiều lao động giá rẻ. Ưu đãi cần gắn với yêu cầu đưa công nghệ mới vào Việt Nam, cam kết chuyển giao công nghệ và liên kết với doanh nghiệp trong nước.

Đối với chuyển đổi xanh, Nhà nước cần đầu tư hạ tầng quản trị chung để giảm chi phí cho doanh nghiệp nhỏ và người dân thu nhập thấp. Doanh nghiệp cần tăng liên kết, tận dụng phế thải của đơn vị này làm đầu vào cho đơn vị khác theo kinh tế tuần hoàn, qua đó đáp ứng tiêu chuẩn sinh thái với chi phí hợp lý hơn.

Giáo sư Hoàng Văn Cường cho rằng nếu phải chọn một điều kiện có ý nghĩa quyết định nhất đối với thành công của mô hình mới, đó là thể chế thúc đẩy sáng tạo. Nếu thể chế năm 1986 chủ yếu nhằm giải phóng nguồn lực, thì thể chế trong kỷ nguyên mới phải khuyến khích cái mới, chấp nhận rủi ro và bảo vệ những người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm.

Từ cải cách thể chế quản lý, bộ máy quản trị quốc gia cần thực sự trở thành người dẫn dắt, hỗ trợ và phục vụ. Khi đó, Việt Nam mới có thể khơi dậy tối đa tiềm năng sáng tạo của con người - nguồn lực lớn nhất và bền vững nhất để hướng tới mục tiêu tự cường và trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Theo Kiến thức đầu tư
https://dautu.kinhtechungkhoan.vn/tu-nhom-20-nuoc-ngheo-nhat-the-gioi-viet-nam-viet-nen-ky-tich-40-nam-doi-moi-tren-hanh-trinh-toi-quoc-gia-thu-nhap-cao-1464478.html
Đừng bỏ lỡ
    Đặc sắc
    Nổi bật Người quan sát
    Đọc tiếp
    Từ nhóm 20 nước nghèo nhất thế giới, Việt Nam viết nên kỳ tích 40 năm đổi mới trên hành trình tới quốc gia thu nhập cao
    POWERED BY ONECMS & INTECH