GDP tăng cao nhưng sức cầu và dòng tiền chưa tương xứng
Dù GDP tăng hơn 8% và FDI tiếp tục duy trì đà tăng, dòng tiền trong nền kinh tế vẫn chưa thực sự lưu thông thông suốt. Chuyên gia Phạm Xuân Hoè cho rằng giải ngân đầu tư công chậm, khu vực doanh nghiệp trong nước khó tiếp cận vốn, FII rút ròng và thanh khoản ngân hàng căng thẳng đang tạo ra những điểm nghẽn đáng chú ý.
9 địa phương đạt mức tăng trưởng GRDP hai con số
Tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong nửa đầu năm 2026 ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực. GDP tăng 8,18%, 9 địa phương đạt mức tăng trưởng GRDP hai con số, sản xuất công nghiệp tiếp tục khởi sắc và tổng vốn FDI đăng ký ở mức cao.
Tuy nhiên, theo chuyên gia Phạm Xuân Hoè, Tổng thư ký Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam, phía sau những con số tích cực vẫn tồn tại một số nghịch lý cho thấy dòng tiền chưa được khơi thông hiệu quả.

Phát biểu tại talkshow “Lãi suất tăng cao, doanh nghiệp khát vốn: Dòng tiền ‘tắc nghẽn’ ở đâu?” do VTC News tổ chức ngày 6/8, ông Hoè cho rằng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng sau khi loại trừ yếu tố lạm phát vẫn tăng chậm. Điều này cho thấy động lực từ phía cầu đóng góp vào tăng trưởng GDP còn khá mờ nhạt.
Theo ông, có 6 yếu tố chính đang khiến dòng tiền trong nền kinh tế bị ách tắc.
Thứ nhất là cán cân thương mại thâm hụt lớn.
Mặc dù tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tiếp tục tăng trưởng tích cực, Việt Nam lại ghi nhận mức thâm hụt thương mại khoảng 20 tỷ USD trong 7 tháng. Theo chuyên gia, tình trạng này tạo thêm áp lực lên tỷ giá và ảnh hưởng tới thanh khoản của nền kinh tế.
Thứ hai là sự lệch pha giữa thu và chi ngân sách.
Thu ngân sách đang tăng mạnh, trong khi chi ngân sách chưa đạt tiến độ theo kế hoạch. Theo ông Hoè, khi ngân sách thu tiền về nhưng chưa chi ra tương ứng, một phần dòng tiền bị đọng lại, khiến vòng quay tiền tệ trong nền kinh tế chậm hơn.
“Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến vòng quay tiền tệ của Việt Nam thấp, chỉ khoảng 0,55 vòng/năm”, ông Hoè nhận định.
Trong khi đó, giải ngân đầu tư công vẫn chưa đạt kỳ vọng. Có 24 bộ, ngành và địa phương được đánh giá giải ngân chậm, khiến nguồn tiền chưa quay trở lại nền kinh tế và tạo thêm áp lực lên hệ thống tín dụng.
Tăng trưởng tín dụng đến ngày 13/7 đạt 7,86%. Đáng chú ý, tỷ lệ tín dụng trên GDP đã tăng từ 145% lên 147%, cho thấy nền kinh tế đang dựa khá nhiều vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng.
Doanh nghiệp nội địa khó tiếp cận vốn, ngân hàng chịu áp lực thanh khoản
Thứ ba, chuyên gia Phạm Xuân Hoè chỉ ra sự lệch pha giữa khu vực FDI và khu vực doanh nghiệp trong nước.
FDI vẫn tăng trưởng tốt, song nhiều doanh nghiệp nội địa, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, đang gặp khó khăn về thị trường và vốn.

Theo khảo sát được ông Hoè dẫn lại, có 93,5% doanh nghiệp nhỏ và vừa cho biết gặp khó khăn. Đây là khu vực tạo khoảng 60% việc làm, đóng góp khoảng 40% GDP nhưng chỉ tiếp cận được khoảng 20% nguồn vốn.
“Có sự vênh rất lớn” trong khả năng tiếp cận vốn giữa các khu vực doanh nghiệp, ông Hoè đánh giá.
Trong khi số doanh nghiệp giải thể vẫn ở mức cao, các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải đối mặt đồng thời với áp lực về thị trường, chi phí vốn và khả năng tiếp cận tín dụng.
Thứ tư là tiến độ giải ngân đầu tư công còn chậm.
Theo chuyên gia, giải ngân vốn đầu tư công trong 6 tháng đầu năm chỉ tăng 12,7%, thấp hơn mức tăng 22,6% của cùng kỳ năm trước.
Việc tiền đầu tư công chưa được đưa vào nền kinh tế không chỉ làm chậm tiến độ các dự án mà còn gây áp lực lên doanh nghiệp thi công và hệ thống ngân hàng.
“Nhiều doanh nghiệp thi công xây dựng các công trình hạ tầng cơ sở trong các dự án lớn của Chính phủ. Khi chưa có tiền giải ngân ra, họ phải đi vay ngân hàng để thi công trước, sau đó tiền quay về họ mới trả nợ. Nhưng bây giờ tiền không quay về, khiến họ gặp khó cả hai đầu”, ông Hoè phân tích.
Trong bối cảnh lãi suất có xu hướng tăng, doanh nghiệp vừa phải vay vốn với chi phí cao, vừa chịu áp lực dòng tiền do vốn đầu tư công giải ngân chậm.
Thứ năm là áp lực lạm phát gia tăng.
CPI bình quân 7 tháng đầu năm 2026 tăng 4,39% so với cùng kỳ năm trước. Cùng với đó, giá hàng tiêu dùng và lạm phát lõi cũng tăng.
Theo ông Hoè, đây sẽ là sức ép đáng kể đối với cơ quan điều hành, đặc biệt là Ngân hàng Nhà nước, trong việc kiểm soát lạm phát dưới mức 4,5% theo mục tiêu Quốc hội đề ra.
Thứ sáu là thanh khoản hệ thống ngân hàng chưa thực sự dồi dào.
Theo chuyên gia, trong nửa đầu năm, có những thời điểm lãi suất liên ngân hàng tăng vọt lên gần 13%/năm. Đây là tín hiệu cho thấy thanh khoản trên thị trường tiền tệ vẫn chịu áp lực.
Ông Hoè cho rằng trong cấu trúc dòng vốn của nền kinh tế Việt Nam, tín dụng ngân hàng vẫn là nguồn vốn chủ đạo, tiếp đến là FDI, ngân sách và cuối cùng là đầu tư tư nhân.
Trong nửa đầu năm, khu vực FDI giải ngân khoảng 13 tỷ USD, song dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) lại bị rút ròng khoảng 3 tỷ USD. Cùng với thâm hụt thương mại, điều này khiến nguồn cung ngoại tệ và thanh khoản của nền kinh tế chịu thêm sức ép.
Trong khi đó, nguồn vốn từ ngân sách chưa phát huy hết vai trò do tiến độ giải ngân đầu tư công còn chậm.
Theo chuyên gia Phạm Xuân Hoè, đầu tư tư nhân trong nước cũng chưa đủ mạnh để tạo ra một cú hích mới cho dòng tiền.
“Nhìn vào dòng tiền 6 tháng đầu năm, các kênh FDI và đầu tư tư nhân khó có thể bứt phá ngay”, ông nhận định.
Do đó, trong ngắn hạn, chuyên gia cho rằng cần tập trung khơi thông mạnh hơn dòng vốn đầu tư công, đẩy nhanh giải ngân và đưa tiền quay trở lại nền kinh tế.
Nếu dòng tiền ngân sách tiếp tục bị đọng, trong khi doanh nghiệp nội địa chưa thể tăng tốc đầu tư và FII vẫn chịu áp lực rút ròng, những điểm nghẽn về vốn có thể tiếp tục ảnh hưởng tới khả năng tăng trưởng của nền kinh tế trong những tháng cuối năm.