Lãi suất cao chót vót, doanh nghiệp xuất khẩu không dám nhận đơn hàng lớn

Khúc Văn • 28/10/2026 - 20:08

Theo ông Nguyễn Tuấn Việt, CEO VIETGO, lãi suất cho vay ở mức 12-15% đang làm gia tăng áp lực chi phí vốn, buộc doanh nghiệp xuất khẩu chuyển sang nhận đơn hàng nhỏ, quay vòng vốn nhanh và hạn chế đầu tư dài hạn.

Theo ông Việt, nếu tình trạng này kéo dài, doanh nghiệp sẽ khó tận dụng cơ hội thị trường, ảnh hưởng đến sản lượng và sức cạnh tranh của hàng Việt trên thị trường quốc tế.

Lãi suất cao làm thay đổi cách doanh nghiệp xuất khẩu sử dụng vốn

- Thưa ông, mặt bằng lãi suất cho vay tăng đang tác động như thế nào đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu của doanh nghiệp?

Hiện nay, lãi suất cho vay mà doanh nghiệp phải đối mặt dao động khoảng 12-15%. Theo tôi, đây là mức chi phí vốn rất cao, gây áp lực đáng kể lên hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Ảnh màn hình 2026-10-27 lúc 09.17.02
Ông Nguyễn Tuấn Việt, CEO VIETGO.

Lãi suất tăng không chỉ khiến chi phí tài chính tăng mà còn làm khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp bị hạn chế. Khi phải dành thêm nguồn lực để trả lãi vay, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn hơn trong việc duy trì sản xuất, tổ chức kinh doanh và triển khai các đơn hàng xuất khẩu. Đây là vấn đề lớn, đặc biệt với những doanh nghiệp phải ứng vốn trước trong thời gian dài nhưng chỉ thu được tiền sau khi hoàn tất các công đoạn sản xuất và giao hàng.

Nhiều doanh nghiệp tham gia toàn bộ hoặc một phần trong chuỗi cung ứng, do đó phải bỏ vốn ra trước và chờ một khoảng thời gian mới thu hồi được tiền.

Chẳng hạn, với mặt hàng nông sản, doanh nghiệp có thể phải huy động vốn để thu mua ngay từ đầu vụ, đúng thời điểm nông sản được thu hoạch. Tuy nhiên, hàng hóa có thể phải chờ đến cuối vụ hoặc vài tháng sau mới được xuất khẩu. Trong thời gian đó, doanh nghiệp vẫn phải chịu chi phí vốn.

Với ngành dệt may, một đơn hàng thường kéo dài khoảng hai đến ba tháng. Doanh nghiệp phải có tiền mua nguyên liệu, tổ chức sản xuất, hoàn thiện hàng hóa rồi mới xuất khẩu. Thậm chí, khi hàng đã được đưa lên container và đang trên đường vận chuyển quốc tế, doanh nghiệp mới có đủ chứng từ để thực hiện thanh toán theo phương thức T/T hoặc L/C, tùy điều kiện hợp đồng.

Như vậy, vốn của doanh nghiệp bị giam trong một chu kỳ tương đối dài. Khi lãi suất tăng, chi phí phải trả cho khoản vốn này cũng tăng theo, trực tiếp gây sức ép lên hiệu quả kinh doanh và biên lợi nhuận.

Một vấn đề khác là tâm lý ngại tăng giá bán cho khách hàng. Khi chi phí đầu vào và chi phí tài chính tăng, doanh nghiệp có thể muốn điều chỉnh giá để bù đắp, nhưng việc đàm phán với đối tác nước ngoài thường cần thời gian. Không phải lúc nào doanh nghiệp cũng có thể tăng giá ngay, bởi khách hàng còn cân nhắc giá cả và có thể tìm nhà cung cấp khác.

Vì vậy, doanh nghiệp thường phải tự hấp thụ một phần chi phí tăng thêm, khiến lợi nhuận bị thu hẹp. Khi không thể tăng giá bán mà vẫn phải trả lãi vay cao, nhiều doanh nghiệp có xu hướng thu hẹp hoạt động và không dám giữ hàng trong thời gian dài.

Trước đây, khi lãi suất thấp, doanh nghiệp có thể chủ động mua hàng, tích trữ nguyên liệu hoặc chờ thời điểm thị trường thuận lợi hơn để bán. Nhưng trong bối cảnh chi phí vốn cao, họ phải thận trọng hơn, thậm chí chấp nhận bán sớm để thu hồi vốn, hạn chế rủi ro tài chính. Điều này làm giảm khả năng chủ động về thời điểm bán hàng và tận dụng cơ hội thị trường.

- Vậy, theo ôngchi phí vay tăng có làm suy giảm sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam so với các đối thủ nước ngoài không?

Theo tôi, doanh nghiệp đang phải đối mặt với cả hai sức ép: vừa khó tăng giá bán, vừa phải chấp nhận biên lợi nhuận thấp hơn để duy trì quan hệ với khách hàng và giữ đơn hàng.

Đáng chú ý, tác động của lãi suất cao không chỉ nằm ở khoản tiền lãi phải trả. Khi giá trị tài sản bảo đảm giảm, hạn mức tín dụng mà doanh nghiệp có thể tiếp cận cũng có nguy cơ bị thu hẹp. Doanh nghiệp vừa khó vay được lượng vốn như trước, vừa phải chịu chi phí vay cao hơn. Trong khi đó, họ vẫn cần vốn để mua nguyên liệu, tổ chức sản xuất và duy trì hoạt động xuất khẩu.

Doanh nghiệp vì thế phải tính toán rất kỹ từng khoản chi phí, đồng thời mất nhiều thời gian đàm phán với khách hàng về khả năng điều chỉnh giá. Nếu đối thủ ở các quốc gia khác có điều kiện tiếp cận vốn thuận lợi hơn, doanh nghiệp Việt Nam sẽ gặp bất lợi khi cạnh tranh về giá và thời hạn giao hàng.

Việt Nam có những lợi thế nhất định về vận tải biển quốc tế và mạng lưới các hiệp định thương mại tự do, giúp hàng hóa có thêm cơ hội tiếp cận thị trường và hưởng ưu đãi thuế quan khi đáp ứng các điều kiện liên quan. Tuy nhiên, những lợi thế này sẽ khó phát huy đầy đủ nếu doanh nghiệp thiếu vốn hoặc phải chịu chi phí vốn quá cao.

Doanh nghiệp xuất khẩu là lực lượng trực tiếp tạo ra kim ngạch và đưa hàng hóa Việt Nam ra thị trường quốc tế. Vì vậy, theo tôi, tình trạng chi phí vốn cao không nên kéo dài. Chính phủ cần có giải pháp phù hợp để bảo đảm nguồn vốn và giảm áp lực chi phí vốn cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, thương mại và xuất khẩu. Nếu không, sức cạnh tranh của hàng Việt sẽ bị ảnh hưởng, nhất là trong bối cảnh doanh nghiệp phải cạnh tranh với các nhà cung cấp trên toàn cầu.

Doanh nghiệp chuyển sang đơn hàng nhỏ để giảm áp lực vốn

- Vậy, theo ông, doanh nghiệp nên triển khai những giải pháp nào để kiểm soát chi phí và duy trì hoạt động xuất khẩu?

Tình trạng này chắc chắn đang khiến doanh nghiệp phải điều chỉnh kế hoạch sản xuất, cân nhắc quy mô đơn hàng và thận trọng hơn với các quyết định đầu tư mở rộng. Khi chi phí vốn tăng, khả năng vay vốn bị hạn chế, trong khi giá trị tài sản bảo đảm có thể giảm, doanh nghiệp sẽ khó mạnh dạn đầu tư như trước.

Thay vì sử dụng lượng vốn lớn để theo đuổi các đơn hàng dài hạn, doanh nghiệp có xu hướng chuyển sang chiến lược quay vòng vốn nhanh, ưu tiên những đơn hàng có quy mô vừa phải và mức độ rủi ro thấp hơn. Chẳng hạn, trước đây doanh nghiệp có thể sẵn sàng nhận một đơn hàng kéo dài khoảng sáu tháng, chủ động mua nguyên liệu với số lượng lớn khi giá thuận lợi để tối ưu chi phí. Nhưng hiện nay, họ có thể phải cân nhắc kỹ hơn, thậm chí từ chối những đơn hàng cần ứng vốn lớn hoặc kéo dài thời gian thu hồi vốn.

Điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp không còn dễ dàng theo đuổi mục tiêu lợi nhuận cao như trước mà chuyển sang ưu tiên an toàn tài chính. Họ chấp nhận quy mô đơn hàng nhỏ hơn, lợi nhuận kỳ vọng vừa phải để giảm áp lực vay vốn và hạn chế rủi ro khi thị trường biến động.

Tuy nhiên, cách làm này cũng có mặt trái. Khi không đủ năng lực tài chính để nhận các đơn hàng lớn, doanh nghiệp có thể bỏ lỡ cơ hội mở rộng thị trường, gia tăng sản lượng và xây dựng quan hệ dài hạn với khách hàng quốc tế. Về lâu dài, nếu tình trạng thiếu vốn kéo dài, sức cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam có thể suy giảm.

Xuất khẩu 8 tháng tăng 22,4%, Mỹ tiếp tục là “đầu kéo” lớn nhất.
Tình trạng này chắc chắn đang khiến doanh nghiệp phải điều chỉnh kế hoạch sản xuất, cân nhắc quy mô đơn hàng và thận trọng hơn với các quyết định đầu tư mở rộng.

Hiện nay, thị trường quốc tế vẫn có nhu cầu đối với nhiều mặt hàng như gỗ, than, cà phê, gạo, hạt điều và dệt may. Đây đều là những mặt hàng mà việc thu mua, sản xuất hoặc tổ chức xuất khẩu có thể đòi hỏi lượng vốn đáng kể.

Ví dụ, một lô cà phê xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản hiện có giá trị khoảng 2,6-4,2 tỷ đồng. Nếu không có đủ vốn để thu mua hàng hóa và triển khai đơn hàng, doanh nghiệp sẽ khó tận dụng cơ hội thị trường. Khi nhiều doanh nghiệp cùng gặp khó khăn về vốn, sản lượng và kim ngạch xuất khẩu cũng có nguy cơ bị ảnh hưởng.

Doanh nghiệp không thể ngay lập tức tăng giá với đối tác nước ngoài để bù đắp chi phí, cũng không dễ tìm được giải pháp gia tăng lợi nhuận trong thời gian ngắn. Với kinh nghiệm khoảng 20 năm hoạt động trong lĩnh vực xúc tiến xuất khẩu tại VIETGO, chúng tôi mong muốn Nhà nước có những chính sách hỗ trợ vốn thiết thực hơn, tháo gỡ điểm nghẽn tài chính để doanh nghiệp có thể duy trì sản xuất và tận dụng các cơ hội xuất khẩu.

- Ông kiến nghị gì với Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại để ổn định chi phí vốn, bảo đảm dòng tín dụng phục vụ sản xuất và xuất khẩu?

Như tôi đã phân tích, khi lãi suất tăng và khả năng tiếp cận vốn bị thu hẹp, doanh nghiệp buộc phải thay đổi toàn bộ kế hoạch sử dụng vốn. Từ chỗ có thể đầu tư lượng vốn lớn để theo đuổi những đơn hàng dài hạn, họ phải chuyển sang lựa chọn các đơn hàng nhỏ hơn, an toàn hơn và có thời gian thu hồi vốn nhanh hơn.

Một khó khăn đáng chú ý là giá trị tài sản bảo đảm giảm có thể kéo theo hạn mức vay giảm. Chẳng hạn, một bất động sản trước đây được định giá 100 tỷ đồng, nay chỉ còn khoảng 80 tỷ đồng. Nếu ngân hàng cho vay bằng 70% giá trị tài sản bảo đảm, hạn mức tín dụng tính theo giá trị tài sản đó sẽ giảm từ 70 tỷ đồng xuống còn 56 tỷ đồng, với giả định tỷ lệ cho vay không thay đổi. Phần vốn doanh nghiệp có thể vay vì vậy bị thu hẹp, trong khi nhu cầu vốn phục vụ sản xuất và xuất khẩu vẫn còn nguyên.

Khi thiếu vốn, doanh nghiệp cũng khó đáp ứng các điều kiện thanh toán và giao dịch với đối tác quốc tế. Một số doanh nghiệp có thể e ngại phương thức thanh toán L/C nếu không đủ năng lực tài chính để triển khai đơn hàng theo yêu cầu. Trong những trường hợp khác, họ phải đề nghị khách hàng nâng tỷ lệ đặt cọc từ 30% lên 50% để giảm số vốn tự ứng trước.

Tuy nhiên, việc yêu cầu đối tác đặt cọc cao hơn không phải lúc nào cũng khả thi, bởi khách hàng còn cân nhắc điều kiện giao dịch và có thể lựa chọn nhà cung cấp khác. Điều đó khiến doanh nghiệp Việt Nam gặp thêm bất lợi trong quá trình đàm phán và cạnh tranh giành đơn hàng.

Về phía VIETGO, chúng tôi cũng phải điều chỉnh hoạt động để phù hợp với tình hình thực tế. Thay vì tập trung chủ yếu vào những đơn hàng lớn, chúng tôi tăng cường giới thiệu các đơn hàng nhỏ và lẻ để doanh nghiệp dễ tiếp cận, dễ chốt giao dịch hơn và giảm áp lực về vốn ban đầu.

Với các đơn hàng nhỏ, tỷ suất lợi nhuận có thể cao hơn trong một số trường hợp, nhưng tổng giá trị lợi nhuận tuyệt đối thường thấp hơn do quy mô giao dịch nhỏ. Đây là sự điều chỉnh cần thiết để doanh nghiệp thích nghi với điều kiện vốn hiện nay, ưu tiên vòng quay vốn nhanh và hạn chế rủi ro thay vì theo đuổi những khoản lợi nhuận lớn nhưng đòi hỏi nguồn vốn dài hạn.

Về chính sách, chúng tôi kiến nghị Chính phủ nghiên cứu dành nguồn vốn ưu đãi riêng cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh phục vụ xuất khẩu. Cùng với đó, cần có giải pháp để dòng tín dụng thực sự đến được với doanh nghiệp có nhu cầu vốn phục vụ sản xuất, thu mua nguyên liệu và thực hiện đơn hàng xuất khẩu.

Mục tiêu là giúp doanh nghiệp duy trì năng lực sản xuất, tận dụng cơ hội thị trường và giữ được sức cạnh tranh về giá. Đây cũng là điều kiện quan trọng để bảo đảm tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu trong năm 2026 và những năm tiếp theo.

-Trân trọng cảm ơn ông!

Theo Kiến thức Đầu tư | 2026-10-28 17:02
https://dautu.kinhtechungkhoan.vn/lai-suat-cao-chot-vot-doanh-nghiep-xuat-khau-khong-dam-nhan-don-hang-lon-1472524.html
Đừng bỏ lỡ
    Đặc sắc
    Nổi bật Người quan sát
    Đọc tiếp
    Lãi suất cao chót vót, doanh nghiệp xuất khẩu không dám nhận đơn hàng lớn
    POWERED BY ONECMS & INTECH