Lần đầu tiên trong lịch sử y học: Láng giềng Việt Nam sử dụng robot hỗ trợ bác sĩ thực hiện thành công ca vi phẫu ghép gan trên người
Thành tựu được công bố sau khi nhóm nghiên cứu Trường Y, Đại học Hong Kong hoàn tất thử nghiệm lâm sàng vi phẫu có hỗ trợ robot tại Bệnh viện Queen Mary.
Các bác sĩ tại Hong Kong vừa thực hiện thành công ca ghép gan từ người hiến sống có hỗ trợ robot đầu tiên trên thế giới. Thành tựu này được công bố sau khi nhóm nghiên cứu thuộc Trường Y, Đại học Hong Kong (HKU) hoàn tất chương trình thử nghiệm lâm sàng về vi phẫu có hỗ trợ robot tại Bệnh viện Queen Mary.
Theo kết quả được công bố ngày 24/6, kể từ khi chương trình được triển khai vào tháng 6/2025, các bác sĩ đã thực hiện thành công 48 ca vi phẫu bằng robot. Toàn bộ bệnh nhân đều không gặp biến chứng liên quan đến nền tảng robot trong và sau phẫu thuật, các mối nối mạch máu đều duy trì lưu thông tốt và chưa ghi nhận biến chứng dài hạn.
Đặc biệt, vào tháng 4 vừa qua, hệ thống này lần đầu tiên được ứng dụng trong một ca ghép gan từ người hiến sống, đánh dấu cột mốc mới của lĩnh vực vi phẫu.
Vi phẫu là kỹ thuật phẫu thuật chuyên sâu, trong đó bác sĩ phải thao tác dưới kính hiển vi có độ phóng đại lớn trên các cấu trúc có kích thước chỉ khoảng 0,1mm. Phương pháp này thường được sử dụng để nối mạch máu, mạch bạch huyết và dây thần kinh.
Tiến sĩ Velda Chow Ling-yu, Phó Giáo sư lâm sàng Khoa Phẫu thuật, Trường Y thuộc Đại học Hong Kong cho biết, mục tiêu của hệ thống robot là khắc phục những hạn chế vốn tồn tại trong vi phẫu truyền thống. "Bất lợi lớn nhất của vi phẫu là hiện tượng run tay, đặc biệt khi bác sĩ chịu áp lực hoặc làm việc trong trạng thái mệt mỏi", bà nói.

Theo Tiến sĩ Chow, các bác sĩ cũng thường phải duy trì một tư thế cố định trong thời gian dài để căn chỉnh giữa kính hiển vi và vị trí phẫu thuật khiến công việc trở nên áp lực hơn. Chính vì phải rèn luyện khả năng kiểm soát run tay và thực hiện những thao tác cực kỳ chính xác trong điều kiện khắt khe nên quá trình đào tạo bác sĩ vi phẫu thường kéo dài hơn so với nhiều chuyên ngành khác.
Khoảng một năm trước, nhóm nghiên cứu bắt đầu thử nghiệm lâm sàng hệ thống vi phẫu có hỗ trợ robot tại Bệnh viện Queen Mary ở khu Pok Fu Lam. Đây cũng là lần đầu tiên công nghệ này được ứng dụng tại châu Á.
Thay vì đứng trực tiếp bên bàn mổ, bác sĩ sẽ ngồi trên ghế được thiết kế theo nguyên tắc công thái học và điều khiển các cánh tay robot thông qua hai cần điều khiển. Khi đeo kính hiển thị 3D, bác sĩ có thể quan sát hình ảnh vùng phẫu thuật với độ phóng đại rất lớn trên màn hình. Mọi thao tác điều khiển đều được hệ thống chuyển đổi thành chuyển động chính xác của cánh tay robot theo thời gian thực, đồng thời tự động loại bỏ hiện tượng run tay để bảo đảm độ ổn định.

Sau khi hoàn thành chương trình đào tạo, các bác sĩ đã thực hiện 48 ca vi phẫu có hỗ trợ robot, bao gồm phẫu thuật tái tạo sau cắt bỏ khối u, phẫu thuật hệ bạch huyết, điều trị chấn thương và ghép gan từ người hiến sống.
Theo Tiến sĩ Chow, hệ thống robot không chỉ giúp giảm đáng kể ảnh hưởng của hiện tượng run tay mà còn cải thiện tư thế làm việc của bác sĩ, góp phần rút ngắn quá trình đào tạo và nâng cao hiệu quả huấn luyện. Điều này cũng được kỳ vọng sẽ giúp giảm thời gian chờ phẫu thuật của người bệnh.
Bà cho biết dù vẫn cần thêm dữ liệu để đánh giá toàn diện hiệu quả của công nghệ, các hệ thống robot tương tự đã được triển khai tại nhiều nước phương Tây và cho thấy khả năng nâng cao độ chính xác trong phẫu thuật cũng như giảm tỷ lệ biến chứng.
Giáo sư Albert Chan Chi-yan, Giáo sư lâm sàng Khoa Phẫu thuật kiêm Giám đốc Trung tâm Ghép gan của Bệnh viện Queen Mary, cho biết một trong những công đoạn khó nhất của ghép gan là nối lại động mạch gan có đường kính chỉ từ 1-2mm.
"Nếu động mạch gan sau khi nối bị tắc, lá gan ghép sẽ không thể hoạt động bình thường, dẫn đến suy gan và bệnh nhân có thể phải ghép gan lần thứ hai. Tuy nhiên, không phải ai cũng có cơ hội được ghép gan thêm một lần nữa", ông nói.

Theo Giáo sư Chan, ở phương pháp phẫu thuật truyền thống, kết quả phụ thuộc rất lớn vào tay nghề và khả năng kiểm soát run tay của bác sĩ. Hệ thống robot giúp khắc phục hạn chế này nhờ khả năng thực hiện từng mũi khâu với độ ổn định và chính xác cao, qua đó giảm nguy cơ tắc động mạch và nâng cao tỷ lệ thành công của ca phẫu thuật.
Nhóm nghiên cứu cho biết sẽ tiếp tục hướng tới mục tiêu đưa robot vi phẫu trở thành công cụ được sử dụng thường quy trong các ca ghép gan tại hệ thống bệnh viện công, đồng thời mở rộng nghiên cứu ứng dụng công nghệ này trong phẫu thuật tái tạo đường mật.
