Lợi nhuận tăng mạnh tại VietCredit và F88: Vốn và rủi ro phía sau cuộc đua tín dụng tiêu dùng
Cùng ghi nhận lợi nhuận 6 tháng tăng mạnh, VietCredit và F88 vận hành trên 2 mô hình khác nhau, với áp lực riêng về chi phí vốn, dự phòng, mạng lưới và thu hồi nợ.
Một thị trường tài chính tiêu dùng, hai công thức lợi nhuận
Thị trường tài chính tiêu dùng tại Việt Nam thường được nhận diện qua các tên tuổi như FE Credit, Home Credit, HD Saison hay MCredit. Trong bức tranh này, VietCredit và F88 là 2 trường hợp đáng chú ý khi cùng ghi nhận lợi nhuận tăng mạnh, nhưng đi theo 2 mô hình khác nhau.
Công ty Tài chính Tổng hợp CP Tín Việt (VietCredit, UPCoM: TIN) là tổ chức tín dụng phi ngân hàng được NHNN cấp phép. Doanh nghiệp có thể nhận tiền gửi của tổ chức, vay tổ chức tín dụng, phát hành giấy tờ có giá, cho vay tiêu dùng, phát hành thẻ tín dụng và bao thanh toán.
CTCP Đầu tư F88 (UPCoM:F88) là pháp nhân đại chúng đứng sau hệ sinh thái F88. Hoạt động với khách hàng chủ yếu được triển khai qua CTCP Kinh doanh F88, đơn vị cung cấp dịch vụ cầm đồ, đại lý bảo hiểm và một số dịch vụ tài chính khác.
VietCredit thiên về tín dụng tiêu dùng tín chấp. Khoản vay dựa trên hồ sơ khách hàng, thu nhập, lịch sử tín dụng và hạn mức được cấp qua thẻ vay hoặc thẻ tín dụng nội địa. Trong khi đó, F88 thiên về cho vay có tài sản bảo đảm hoặc cầm cố tài sản, thường gắn với xe máy, ô tô, đăng ký xe và các tài sản khác.
Sự khác nhau này tạo ra 2 cách khai thác nhu cầu vốn nhỏ. VietCredit mở rộng trên bảng cân đối của công ty tài chính; tăng trưởng cho vay đi cùng thu nhập lãi, nguồn vốn có trả lãi và dự phòng theo chuẩn tổ chức tín dụng. F88 phát triển dựa trên mạng lưới giao dịch, tài sản bảo đảm, bảo hiểm, thu hồi nợ và hợp tác vốn với đối tác.
Quý II, VietCredit ghi nhận LNTT 472 tỷ đồng, tăng 95% so với cùng kỳ; LNST đạt 377 tỷ đồng, tăng 80,3%. Lũy kế 6 tháng, LNTT đạt 1.049 tỷ đồng, tăng 230,3%, tương đương gấp 3,3 lần; LNST đạt 838 tỷ đồng, tăng 194,4%, tương đương gấp 2,94 lần.
Động lực chính đến từ thu nhập lãi thuần. Quý II, khoản này đạt 1.772 tỷ đồng, tăng 176,6%, gần tương ứng với mức tăng dư nợ cho vay khách hàng lên 18.221 tỷ đồng. Tổng tài sản đạt 23.216 tỷ đồng, tăng gần 143% so với cuối tháng 6/2025. Ở chiều ngược lại, quy mô cho vay lớn hơn cũng kéo theo chi phí vốn, chi phí dịch vụ và dự phòng rủi ro tín dụng, tạo sức ép lên phần lợi nhuận giữ lại.
F88 ghi nhận LNST quý II đạt 303 tỷ đồng, tăng 102% so với cùng kỳ, tương đương gấp 2,02 lần. Lũy kế 6 tháng, LNST đạt gần 545 tỷ đồng, tăng 114%, tương đương gấp 2,14 lần. Dư nợ quản lý cuối quý II đạt 8.827 tỷ đồng, tăng 22% so với đầu năm. Tổng giải ngân quý II đạt 6.047 tỷ đồng, tăng 57% và là mức cao nhất từ trước tới nay của doanh nghiệp.
Mạng lưới F88 đạt 976 phòng giao dịch, thu hút khoảng 89.000 khách hàng mới trong quý. Kênh đối tác đóng góp khoảng 23.500 khách hàng mới, còn kênh số chiếm 12% tổng giá trị giải ngân qua ứng dụng. Đà tăng của F88 đến từ các khoản vay mới, tần suất giao dịch tại phòng giao dịch, thu hồi nợ, bán chéo bảo hiểm và kênh số dành cho nhóm khách hàng hiện hữu.

Từ lợi nhuận đến quy mô: Hai thước đo tăng trưởng khác biệt
Khi đặt VietCredit cạnh F88, điểm dễ gây nhầm lẫn nhất là dư nợ. Với VietCredit, dư nợ cho vay khách hàng nằm trực tiếp trên bảng cân đối, đi cùng thu nhập lãi, chi phí vốn và dự phòng. Với F88, dư nợ quản lý gồm phần tại F88 và phần doanh nghiệp quản lý cho các đối tác tài trợ như CIMB và MB Bank.
Năm 2025, dư nợ quản lý của F88 tăng 57,4%, từ 4.585 tỷ đồng lên 7.216 tỷ đồng. Đến cuối quý II, BCTC hợp nhất F88 ghi nhận giá trị gốc các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn khoảng 6.256 tỷ đồng, thấp hơn mức dư nợ quản lý 8.827 tỷ đồng. Chênh lệch hơn 2.570 tỷ đồng cho thấy 2 doanh nghiệp vận hành trên 2 nền tảng vốn và cách ghi nhận rủi ro khác nhau.

Với VietCredit, chi phí vốn là sức ép đầu tiên khi danh mục cho vay mở rộng. Quý II, doanh nghiệp ghi nhận thu nhập lãi 2.106 tỷ đồng, trong khi chi phí lãi lên 334 tỷ đồng, tăng 285,3% so với cùng kỳ, tương đương gấp 3,85 lần. Mức tăng này cao hơn tốc độ tăng của thu nhập lãi thuần, cho thấy nhu cầu huy động vốn lớn hơn trong giai đoạn tăng trưởng nhanh.
Đến cuối tháng 6, tổng nguồn vốn có trả lãi chính của VietCredit đạt 19.177 tỷ đồng. Riêng giấy tờ có giá đạt hơn 12.160 tỷ đồng, gần gấp đôi cuối năm trước và trở thành nguồn vốn lớn nhất. Nguồn lực này mở rộng dư địa cho vay, đồng thời tạo nghĩa vụ trả lãi trong các kỳ tiếp theo.
Ở khâu vận hành, CIR quý II giảm còn 9,93%, trong khi chi phí hoạt động ở mức 138 tỷ đồng, tăng 47,5% so với cùng kỳ. Tỷ lệ này cho thấy chi phí của bộ máy nội bộ tăng chậm hơn quy mô thu nhập. Tuy vậy, một phần chi phí mở rộng được ghi nhận tại mảng dịch vụ, khi VietCredit lỗ thuần hoạt động dịch vụ 399 tỷ đồng, với chi phí hoạt động dịch vụ 401 tỷ đồng.
Diễn biến này gắn với chiến lược tín dụng số. VietCredit mở rộng qua các đối tác như MoMo, Zalo, ZaloPay, Viettel Money, VNPT, Grab, MISA, KiotViet và FAST Accounting, qua đó tiếp cận khách hàng mà không phải mở rộng nhanh mạng lưới vật lý. Đi cùng phương thức này là chi phí thu hút người vay, vận hành giao dịch, thu hộ và chia sẻ doanh thu với các nền tảng.
Dự phòng là khoản chi lớn nhất của VietCredit. Riêng quý II, chi phí dự phòng đạt 781 tỷ đồng, tăng 409,9% so với cùng kỳ, tương đương gấp 5,1 lần. Lũy kế 6 tháng, khoản này đạt 1.299 tỷ đồng, cao hơn LNST khoảng 461 tỷ đồng và tương đương 155% LNST cùng kỳ.
VietCredit cho biết tỷ lệ nợ xấu tại ngày 30/6 là 6,02%, giảm từ 7,08% cuối quý I. Thu từ các khoản nợ đã xử lý rủi ro đạt 27,2 tỷ đồng trong 6 tháng, tăng 58,7% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động thu hồi nợ cải thiện, trong khi quy mô dự phòng vẫn tăng cùng đà mở rộng danh mục cho vay. Lợi nhuận của VietCredit vì vậy đi cùng sức ép từ chi phí huy động vốn, phân phối qua kênh số và rủi ro tín dụng.
Áp lực chi phí và sức khỏe tài chính sau tăng trưởng
Với F88, trọng tâm nằm ở năng suất mạng lưới. Theo công bố của doanh nghiệp, tổng doanh thu quý II đạt 1.448 tỷ đồng, tăng 57% so với cùng kỳ. Doanh thu từ cho vay cầm cố và các khoản liên quan đạt 1.232 tỷ đồng, tăng 54%. Doanh thu đại lý bảo hiểm đạt 202 tỷ đồng, tăng 80%. Tổng số hợp đồng bảo hiểm đạt gần 526.000 hợp đồng, tăng 56%, trong đó bảo hiểm độc lập tăng gần 8 lần.
F88 đồng thời khai thác thêm dịch vụ trên tệp khách hàng hiện hữu và duy trì hệ thống gần 1.000 phòng giao dịch để tiếp cận khách hàng, xử lý hồ sơ và quản lý khoản vay.
Trên BCTC hợp nhất, doanh thu thuần quý II của F88 đạt 1.156 tỷ đồng, giá vốn 687 tỷ đồng và lợi nhuận gộp 469 tỷ đồng, tương ứng biên lợi nhuận gộp khoảng 40,6%. Chi phí bán hàng và quản lý đạt 333 tỷ đồng, bằng khoảng 71% lợi nhuận gộp. Chi phí nhân công quý II ở mức khoảng 420 tỷ đồng, tương đương 36,4% doanh thu thuần.
Mỗi phòng giao dịch vừa tạo doanh thu, vừa phát sinh chi phí. Mạng lưới hỗ trợ F88 định danh khách hàng, kiểm tra giấy tờ, định giá tài sản, xử lý giao dịch và tổ chức thu hồi. Dư nợ quản lý bình quân trên mỗi phòng giao dịch cuối quý II đạt khoảng 9 tỷ đồng. Quy mô bình quân tăng giúp chi phí cố định được phân bổ trên danh mục lớn hơn; ngược lại, hiệu quả từng điểm giao dịch giảm có thể khiến phần tăng trưởng bị hấp thụ bởi chi phí nhân sự, mặt bằng và vận hành.
Rủi ro của F88 tập trung ở khâu thu hồi và xử lý khoản vay quá hạn. Tài sản bảo đảm tạo thêm cơ sở thu hồi, nhưng giá trị thu về còn phụ thuộc vào hồ sơ sở hữu, tình trạng tài sản, tỷ lệ cho vay trên giá trị tài sản, thời gian xử lý và chi phí thanh lý.
F88 cho biết các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày trở lên được trích lập dự phòng 100% và chuyển sang theo dõi thu nợ ngoại bảng. Trong quý II, chi phí xóa sổ nợ xấu thuần tăng 17% so với quý trước, lên 319 tỷ đồng, cao hơn LNST 303 tỷ đồng. Trên BCLCTT, khoản dự phòng được điều chỉnh khi xác định dòng tiền từ HĐKD đạt 422 tỷ đồng, tương đương 139% LNST quý II.
Giải ngân mới hỗ trợ doanh thu, trong khi các khoản vay quá hạn kéo theo chi phí thu hồi và xóa sổ nợ. Tài sản bảo đảm có thể hạn chế phần thiệt hại sau cùng, song doanh nghiệp vẫn phát sinh chi phí xử lý hồ sơ, quản lý tài sản và thu tiền sau quá hạn.
Tại ĐHĐCĐ thường niên tổ chức chiều 30/3 tại Hà Nội, ông Nguyễn Đức Đại, Tổng Giám đốc CTCP Đầu tư F88, cho biết công ty không theo đuổi tăng trưởng bằng mọi giá, đồng thời duy trì sự cân bằng giữa mở rộng kinh doanh và kiểm soát rủi ro.

Dòng tiền cho thấy sức ép vốn tại 2 doanh nghiệp không giống nhau. VietCredit ghi nhận lưu chuyển tiền thuần từ HĐKD quý II dương 903 tỷ đồng và 6 tháng dương 562 tỷ đồng. Với công ty tài chính, dòng tiền HĐKD bao gồm biến động cho vay, tiền gửi, vay tổ chức tín dụng và phát hành giấy tờ có giá. Khi dư nợ tăng nhanh, thanh khoản gắn chặt với khả năng duy trì nguồn vốn đủ dài, ổn định và có chi phí phù hợp với lợi suất cho vay.
F88 ghi nhận dòng tiền HĐKD quý II dương 676 tỷ đồng và 6 tháng dương 717 tỷ đồng, cao hơn LNST 545 tỷ đồng. Dòng tiền đầu tư 6 tháng âm 676 tỷ đồng do hoạt động giải ngân và thu hồi khoản vay được ghi nhận chủ yếu trong lưu chuyển tiền đầu tư. Sau khi bù trừ 2 dòng tiền này, phần còn lại trong 6 tháng đạt khoảng 41 tỷ đồng, cho thấy phần lớn nguồn tiền tạo ra tiếp tục được đưa vào danh mục khoản vay.
F88 đặt mục tiêu năm nay doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ đạt hơn 5.461 tỷ đồng, tăng 42%; dư nợ ròng hơn 7.501 tỷ đồng, tăng 33%; LNTT hợp nhất đạt 1.133 tỷ đồng, tăng 25%. Với LNTT 6 tháng đạt 686 tỷ đồng, doanh nghiệp đã hoàn thành khoảng 60,5% kế hoạch năm.
Doanh nghiệp đang triển khai chào bán hơn 22 triệu cổ phiếu với giá 71.000 đồng/cổ phiếu, dự kiến huy động 1.564 tỷ đồng để mở rộng mạng lưới, phát triển đối tác, tăng quy mô danh mục cho vay, bảo hiểm và sản phẩm tài chính, đồng thời bổ sung năng lực vốn.
Tại ĐHĐCĐ thường niên, ông Phùng Anh Tuấn, Chủ tịch HĐQT CTCP Đầu tư F88, cho biết doanh nghiệp đã xây dựng phương án ứng phó với nhiều kịch bản thị trường và chưa điều chỉnh kế hoạch kinh doanh, tài chính. F88 dự kiến chuyển cổ phiếu sang HoSE trong nửa cuối năm nay, tùy thuộc tiến độ thủ tục pháp lý và sự chấp thuận của cơ quan quản lý.
Việc tăng vốn và chuyển sàn gắn với kế hoạch mở rộng quy mô của F88. Nguồn vốn bổ sung có thể hỗ trợ tăng danh mục khoản vay, giảm sức ép đòn bẩy và nâng chuẩn minh bạch khi mạng lưới tiến sát mốc 1.000 phòng giao dịch. Hiệu quả sử dụng vốn sẽ gắn với năng suất điểm giao dịch, tỷ lệ thu hồi và chi phí xử lý khoản vay quá hạn.
Với VietCredit, giấy phép công ty tài chính và quyền huy động qua giấy tờ có giá mở rộng khả năng tiếp cận nguồn vốn. Tuy nhiên, tốc độ tăng dư nợ tiếp tục đặt ra sức ép về chi phí huy động, phân phối số và dự phòng. Ở cả 2 mô hình, phần lợi nhuận duy trì sau tăng trưởng gắn với khả năng kiểm soát vốn, vận hành và rủi ro tín dụng.