Ông Nguyễn Đức Hùng Linh: Chậm ESG, hàng Việt có nguy cơ mất thị trường toàn cầu
Ông Nguyễn Đức Hùng Linh – Phó Tổng giám đốc Khối Đầu tư AgriS – cảnh báo doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trước một ngưỡng sàng lọc khắc nghiệt bởi ESG không còn là lựa chọn hay xu hướng ngắn hạn, mà đã trở thành “giấy thông hành” bắt buộc.
Tại Hội thảo “Động lực tăng trưởng kinh tế 2 chữ số và Cơ hội đầu tư năm 2026”, ông Nguyễn Đức Hùng Linh - Phó Tổng giám đốc, Khối Đầu tư AgriS cho rằng thay đổi lớn nhất từ thị trường quốc tế đang tác động mạnh mẽ đến hàng hóa Việt Nam chính là các tiêu chuẩn xanh (ESG) và yêu cầu truy xuất nguồn gốc.
Đây được coi là hai yếu tố then chốt, không chỉ riêng với ngành nông nghiệp mà cho tất cả các ngành nghề muốn duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh trên quy mô toàn cầu.

Theo ông Linh, dù xu hướng ESG tại một số thị trường, đặc biệt là Mỹ, có dấu hiệu chững lại do thay đổi chính sách, song trên bình diện toàn cầu, nhất là tại châu Âu và nhiều khu vực khác, các quốc gia vẫn cam kết rất mạnh mẽ với bộ tiêu chuẩn ESG. Đây là xu hướng dài hạn, không thể đảo chiều trong ngắn hạn.
“Để đáp ứng ESG, doanh nghiệp phải đối mặt với nhiều yêu cầu khắt khe và một lộ trình chuyển đổi dài hơi. Trước hết là nguồn vốn đầu tư ban đầu lớn, không chỉ cho công nghệ, hệ thống mà còn cho tư vấn, đào tạo, cùng với cam kết mạnh mẽ từ ban lãnh đạo lan tỏa xuống toàn bộ đội ngũ nhân sự”, ông Linh nói.
Trên thực tế, ông Linh cho rằng cần ít nhất 3–5 năm để doanh nghiệp có thể tiệm cận và đáp ứng các tiêu chuẩn ở mức cơ bản, bởi không thể chuyển đổi toàn bộ quy trình sản xuất ngay lập tức.
“Một yêu cầu bắt buộc khác là ứng dụng sâu công nghệ số vào toàn bộ chuỗi sản xuất. Các nhà nhập khẩu, đặc biệt tại châu Âu, có thể yêu cầu doanh nghiệp cung cấp đầy đủ hồ sơ, giấy tờ gốc của sản phẩm trong thời gian rất ngắn, thậm chí chỉ trong vòng 4 tiếng.
Nếu không thể cung cấp dữ liệu ngay lập tức, điều đó đồng nghĩa doanh nghiệp chưa vận hành hiệu quả hoặc chưa sẵn sàng về hệ thống. Do vậy, không còn lựa chọn nào khác ngoài việc số hóa toàn diện, chi tiết hóa và tập trung hóa dữ liệu sản xuất”, ông Linh nói.
Quá trình số hóa này, ông Linh cho rằng đòi hỏi doanh nghiệp phải đưa ra những quyết định mang tính chiến lược, chẳng hạn lựa chọn nền tảng phần mềm quản trị phù hợp. Nhiều doanh nghiệp đã phải đưa ra quyết định khó khăn khi chuyển đổi từ các phần mềm cũ sang các hệ thống hiện đại hơn như SAP để đạt hiệu quả cao hơn.
Song song với ESG, truy xuất nguồn gốc ngày càng trở thành yêu cầu bắt buộc, nhất là trong bối cảnh Việt Nam liên tục đối mặt với các vấn đề liên quan đến an toàn thực phẩm, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật.
Đối với các thị trường khó tính, theo ông Linh truy xuất nguồn gốc không chỉ dừng ở an toàn thực phẩm mà còn mở rộng sang các tiêu chí xã hội và môi trường như: có sử dụng đất phá rừng hay không, có sử dụng lao động địa phương và đảm bảo quyền lợi cho họ hay không.
“Bản thân việc truy xuất nguồn gốc cũng gắn liền với năng lực cung cấp dữ liệu nhanh chóng. Hiện nay là yêu cầu trong vòng 4 tiếng, nhưng trong tương lai, mức độ cạnh tranh có thể đẩy thời gian này xuống còn 1 tiếng, hoặc thậm chí doanh nghiệp phải cung cấp trực tiếp cho khách hàng một nền tảng dữ liệu để họ tự truy cập, khai thác thông tin mà không cần thông qua trung gian”, ông Linh khẳng định.
Ở góc độ cạnh tranh, ông Linh cho rằng doanh nghiệp Việt Nam không chỉ cạnh tranh lẫn nhau trong nước mà còn phải đối đầu trực tiếp với các đối thủ lớn trên toàn cầu, đặc biệt từ Thái Lan, Brazil hay các quốc gia có chuỗi cung ứng phát triển.
“Trong cuộc cạnh tranh đó, ESG và truy xuất nguồn gốc chính là những yếu tố tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững cho hàng hóa Việt Nam, bên cạnh các bài toán truyền thống vẫn luôn hiện hữu là chất lượng và giá cả”, ông Linh khẳng định.
