Vĩ mô

Sầu riêng Việt Nam nhiều hơn Thái Lan, sát thị trường Trung Quốc nhưng vì sao vẫn khó xuất khẩu?

Mai Anh 09/07/2026 22:25

Lợi thế về sản lượng chưa đủ giúp sầu riêng Việt bứt phá. Các chuyên gia chỉ ra nhiều "nút thắt" cần tháo gỡ để mở rộng xuất khẩu.

tin_vui_cho_nguoi_trong_sau_rieng.jpg
Điều gì khiến sầu riêng - được ví là "vua trái cây" vẫn chưa phát huy hết tiềm năng.

Sầu riêng đang trở thành một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ngành rau quả Việt Nam khi diện tích trồng liên tục mở rộng và sản lượng được dự báo vượt Thái Lan ngay trong năm nay. Tuy nhiên, đằng sau những con số tăng trưởng ấn tượng là hàng loạt rào cản về chất lượng, kiểm định, truy xuất nguồn gốc và thủ tục thông quan khiến loại trái cây được ví là "vua trái cây" vẫn chưa phát huy hết tiềm năng.

Chia sẻ tại Tọa đàm "Làm gì để xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD?" diễn ra ngày 9/7, ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam (Vinafruit), cho rằng sầu riêng là một trong những ngành hàng còn dư địa phát triển rất lớn. Tuy nhiên, để biến lợi thế về sản lượng thành kim ngạch xuất khẩu, ngành hàng này cần giải quyết nhiều điểm nghẽn đã tồn tại trong thời gian qua.

Sản lượng vượt Thái Lan nhưng chất lượng vẫn là bài toán lớn

Theo ông Nguyễn Thanh Bình, Việt Nam hiện có khoảng 170.000 ha trồng sầu riêng. Sản lượng năm nay có thể đạt từ 1,8-2 triệu tấn, vượt Thái Lan. Đây là lợi thế rất lớn để gia tăng kim ngạch xuất khẩu trong những năm tới.

Tuy nhiên, ông cho rằng vấn đề lớn nhất hiện nay không phải là sản lượng mà là chất lượng.

viberimage2026-07-0909-40-54-704-17835650109411756257730.jpg
Ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch Hiệp hội rau quả Việt Nam (Vinafruit) tham dự trực tuyến Tọa đàm. Ảnh: VGP

Theo phân tích của Chủ tịch Vinafruit, tập quán sản xuất của nhiều nông hộ vẫn chủ yếu dựa trên quy mô nhỏ lẻ và kinh nghiệm truyền thống. Trong thời gian dài, việc sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật khiến nhiều vùng đất trồng cây ăn trái ở khu vực Tây Nam Bộ bị tích tụ kim loại nặng và dư lượng hóa chất.

Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng trái cây xuất khẩu. Với các mặt hàng như sầu riêng hay mít, tồn dư kim loại nặng trong đất có thể đi vào sản phẩm, khiến hàng hóa không đáp ứng được yêu cầu của thị trường nhập khẩu.

Ông Nguyễn Thanh Bình cho rằng đây không phải vấn đề người nông dân có thể tự giải quyết mà cần sự tham gia của cơ quan quản lý và các nhà khoa học nhằm khắc phục tình trạng tài nguyên đất bị khai thác quá mức trong thời gian dài.

Một điểm nghẽn khác được ông Bình chỉ ra là năng lực kiểm tra, kiểm định hàng hóa xuất khẩu.

Theo ông, cuối năm 2025 và đầu năm 2026, nhiều lô trái cây xuất khẩu sang Trung Quốc bị ùn ứ do khâu kiểm tra, kiểm nghiệm không đáp ứng kịp nhu cầu. Hàng hóa phải lưu kho, chờ thông quan trong thời gian dài, làm tăng chi phí và ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.

Để khắc phục tình trạng này, ông đề xuất cần đầu tư thêm các cơ sở kiểm định tại vùng nguyên liệu, đồng thời đẩy mạnh hợp tác với phía Trung Quốc nhằm mở rộng việc công nhận các cơ sở kiểm định của Việt Nam. Khi kết quả kiểm nghiệm được hai bên công nhận, tốc độ thông quan sẽ được cải thiện đáng kể.

Theo ông Nguyễn Thanh Bình, Việt Nam đang sở hữu lợi thế rất lớn khi nằm cạnh thị trường Trung Quốc - thị trường tiêu thụ nông sản lớn nhất thế giới. Không chỉ có nhiều nét tương đồng về nhu cầu tiêu dùng, Việt Nam còn có lợi thế về logistics khi có thể vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ, đường sắt, đường biển và đường sông.

Tuy nhiên, lợi thế địa lý sẽ không còn nhiều ý nghĩa nếu tư duy sản xuất không thay đổi.

Ông cho rằng nhiều năm qua, sản xuất nông nghiệp vẫn chủ yếu hướng đến tăng sản lượng, trong khi yêu cầu của thị trường đã chuyển mạnh sang chất lượng và an toàn thực phẩm. Nếu không thay đổi tư duy này, hàng hóa Việt Nam sẽ ngày càng khó đáp ứng các tiêu chuẩn nhập khẩu.

Bên cạnh chất lượng, việc mở rộng vùng nguyên liệu đủ điều kiện xuất khẩu cũng là vấn đề đáng quan tâm.

Theo ông Nguyễn Thanh Bình, hiện mới khoảng 30-40% diện tích trồng sầu riêng được cấp mã số vùng trồng. Điều đó đồng nghĩa phần lớn diện tích vẫn chưa đủ điều kiện để tham gia xuất khẩu chính ngạch.

Ông cho rằng cần đẩy nhanh quá trình đàm phán với phía Trung Quốc nhằm tăng số lượng mã số vùng trồng, qua đó mở rộng quy mô xuất khẩu cho mặt hàng sầu riêng.

Không chỉ nhiều hơn, sầu riêng Việt còn phải đáp ứng những tiêu chuẩn khắt khe hơn

Theo các chuyên gia, bài toán của sầu riêng Việt Nam hiện nay không dừng ở việc mở rộng diện tích hay tăng sản lượng, mà còn nằm ở khả năng đáp ứng những tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị trường nhập khẩu.

Ông Tô Nguyễn Thành, chuyên gia về truy xuất nguồn gốc nông sản, cho rằng hiện nay doanh nghiệp không chỉ bán một sản phẩm mà còn phải "bán" cả hồ sơ dữ liệu đi kèm sản phẩm đó.

Theo ông, các thị trường nhập khẩu ngày càng yêu cầu minh bạch toàn bộ quá trình sản xuất. Ngoài chất lượng sản phẩm, doanh nghiệp phải chứng minh được sản phẩm đến từ đâu, được chăm sóc như thế nào, trải qua những công đoạn sơ chế, chế biến nào trước khi đến tay người tiêu dùng.

Để đáp ứng yêu cầu này, toàn bộ dữ liệu từ vùng trồng, nhật ký chăm sóc của nông dân, quá trình vận chuyển, cơ sở đóng gói, chế biến, kiểm nghiệm đến hồ sơ xuất khẩu cần được số hóa và liên kết thành một chuỗi thống nhất.

Ở góc độ quản lý nhà nước, ông Âu Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Hải quan (Bộ Tài chính), cho rằng, đối với mặt hàng sầu riêng, toàn bộ chuỗi từ sản xuất, thu hoạch, đóng gói đến xuất khẩu đều cần được số hóa để phục vụ truy xuất nguồn gốc khi nước nhập khẩu yêu cầu.

Bên cạnh đó, cơ quan quản lý cũng cần tiếp tục rà soát, cắt giảm các thủ tục hành chính không cần thiết, đồng thời đơn giản hóa quy trình kiểm dịch, cấp mã số vùng trồng, cấp mã số cơ sở đóng gói và các thủ tục trước khi xuất khẩu.

Theo ông Âu Anh Tuấn, Hải quan Việt Nam đang đàm phán với Hải quan Trung Quốc để xây dựng mô hình cửa khẩu thông minh, cửa khẩu số và trao đổi dữ liệu thông qua Cổng thông tin một cửa quốc gia. Một trong những mục tiêu quan trọng là hai bên công nhận kết quả kiểm tra của nhau để tránh việc một lô hàng phải kiểm tra nhiều lần.

Ông Âu Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Hải quan (Bộ Tài chính) - Ảnh: VGP
Ông Âu Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Hải quan (Bộ Tài chính) - Ảnh: VGP

Ông cho biết đây là yếu tố đặc biệt quan trọng bởi hiện nay sầu riêng Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc vẫn có tỷ lệ kiểm tra khá cao. Gần như lô hàng nào cũng phải kiểm tra hàm lượng cadimi và dư lượng kim loại nặng, khiến thời gian thông quan kéo dài và làm giảm sức cạnh tranh.

Trong khi đó, sầu riêng Thái Lan có tỷ lệ kiểm tra thấp hơn, giúp hàng hóa được đưa ra thị trường nhanh hơn và giữ được chất lượng tốt hơn.

Theo ông Âu Anh Tuấn, nếu hệ thống tiêu chuẩn, kiểm nghiệm và dữ liệu giữa hai nước được kết nối, đồng thời kết quả kiểm tra của Việt Nam được phía Trung Quốc công nhận, thời gian thông quan sẽ được rút ngắn đáng kể, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh cho sầu riêng Việt Nam.

Ở góc độ chiến lược dài hạn, ông Đặng Kim Sơn, nguyên Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển Nông nghiệp, nông thôn, cho rằng để nâng cao giá trị xuất khẩu của sầu riêng cũng như các ngành hàng nông sản khác, Việt Nam cần chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang phát triển kinh tế nông nghiệp.

Theo ông, điều này đòi hỏi phải tổ chức lại các vùng chuyên canh quy mô lớn, gắn với khoa học công nghệ, doanh nghiệp, hợp tác xã, công nghiệp chế biến và hệ thống logistics. Quan trọng hơn, toàn bộ các chủ thể trong chuỗi giá trị, từ người nông dân, doanh nghiệp, nhà khoa học đến cơ quan quản lý, phải được kết nối trong một cơ chế phối hợp thống nhất để cùng chia sẻ lợi ích và trách nhiệm.

Theo Kiến thức Đầu tư | 2026-07-09 16:45
https://dautu.kinhtechungkhoan.vn/sau-rieng-viet-nam-nhieu-hon-thai-lan-sat-thi-truong-trung-quoc-nhung-vi-sao-van-kho-xuat-khau-1456352.html
Đừng bỏ lỡ
    Đặc sắc
    Nổi bật Người quan sát
    Đọc tiếp
    Sầu riêng Việt Nam nhiều hơn Thái Lan, sát thị trường Trung Quốc nhưng vì sao vẫn khó xuất khẩu?
    POWERED BY ONECMS & INTECH