Xử lý vụ 80 m2 đất vàng Bảo tàng Lịch sử quốc gia bị lấn chiếm vẫn được cấp sổ đỏ thế nào?
Từ vụ khoảng 80 m2 đất do Bảo tàng Lịch sử quốc gia quản lý tại 23 Tông Đản bị lấn chiếm (theo kết luận của Thanh tra Chính phủ), các chuyên gia cho rằng cần xử lý rõ những sai phạm đã được xác định, không thể coi việc tồn tại lâu năm là đương nhiên.
Kết luận thanh tra vừa chỉ ra khoảng 80 m2 đất tại số 23 Tông Đản (phường Hoàn Kiếm, Hà Nội) do Bảo tàng Lịch sử quốc gia được giao quản lý, sử dụng đã bị cá nhân lấn chiếm.
Năm 2011, UBND quận Hoàn Kiếm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thửa đất tại số 23 Tông Đản với diện tích hơn 304 m2 cho ông Đặng Quốc Thắng và bà Đặng Thanh Trúc. Diện tích được cấp bao gồm cả phần 80 m2 đất do bảo tàng quản lý, sử dụng.




Từ trường hợp 23 Tông Đản, vấn đề rộng hơn được đặt ra là cách ứng xử với những phần đất, nhà ở tồn tại nhiều năm trong hoặc xen cài với không gian di tích.
Không có chuyện "ở lâu thành quen"
Trao đổi với PV Tiền Phong, nhà nghiên cứu Trần Hậu Yên Thế (Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng muốn xác định phạm vi ở một di tích trước hết phải trở lại với hồ sơ gốc, tư liệu lịch sử và văn bản pháp lý của từng thời kỳ.
Nhiều không gian di tích tại Hà Nội từng rộng hơn đáng kể so với hiện trạng. Quá trình đô thị hóa, cư trú và xây dựng qua thời gian khiến một phần không gian bị thu hẹp, thậm chí bị tách khỏi chỉnh thể ban đầu.
Chuyên gia dẫn trường hợp đình Kim Ngân ở khu phố cổ Hà Nội, từng có giai đoạn hàng chục người sinh sống trong đình. Việc cư trú với mật độ lớn khiến cảnh quan và hoạt động của di tích bị ảnh hưởng, thực hành di sản khó khăn.

Đền Bà Kiệu cũng là trường hợp được nhắc tới khi phân tích sự thay đổi của không gian di tích qua các lớp lịch sử. Điều quan trọng là không lấy hiện trạng đã trở nên quen thuộc làm căn cứ duy nhất để xác định không gian của di tích.
“Câu chuyện ở Bảo tàng Lịch sử quốc gia hay ở đâu đó cũng vậy. Không nên nhìn nhận ở góc độ cảm tính, mà phải nhìn trên góc độ các văn bản pháp lý. Cần đối chiếu những lớp lịch sử, hồ sơ liên quan để xác định không gian đó như thế nào. Nếu có xác nhận sai phạm, lấn chiếm thì bắt buộc phải xử lý”, ông Trần Hậu Yên Thế nói.
Theo nhà nghiên cứu mỹ thuật cổ Trần Hậu Yên Thế, khi một công trình hoặc khu dân cư tồn tại cạnh di tích qua nhiều thập niên, các thế hệ sau có thể coi hiện trạng đó là bình thường. Tuy nhiên, sự quen thuộc trong cảm nhận cộng đồng không thể thay thế các căn cứ pháp lý về đất đai và bảo tồn.
“Có những người thuộc thế hệ sau hoặc từ nơi khác đến, họ không có ký ức về không gian di tích trước đây. Khi nhà dân đã bao quanh những ngôi đình trong thời gian dài, người ta nhìn mãi rồi thấy bình thường. Nhưng nếu tiêu chí là ‘ở lâu thành quen’ thì đó là câu chuyện khác. Nếu đối chiếu với yêu cầu bảo tồn di tích và các quy định pháp luật thì phải căn cứ vào hồ sơ và ranh giới được xác lập”, chuyên gia phân tích.
Từ góc độ nghiên cứu mỹ thuật cổ, chuyên gia cho rằng một di tích cần được nhìn nhận như một chỉnh thể kiến trúc. Giá trị của di tích không chỉ nằm ở công trình trung tâm mà còn liên quan sân, vườn, cảnh quan và những hạng mục phụ trợ.
Không gian di tích cũng giống như một bàn tay thiếu đi một bộ phận, khả năng thực hiện đầy đủ chức năng của chỉnh thể cũng bị ảnh hưởng.
“Vùng lõi đương nhiên rất quan trọng, nhưng không thể vì thế mà nói phần sân hay những không gian phụ trợ không quan trọng. Một ngôi đình, ngôi chùa vốn được tổ chức, tính toán về không gian để tạo thành một chỉnh thể. Khi các bộ phận bị lấn chiếm, tính trọn vẹn đó sẽ bị ảnh hưởng”, ông Trần Hậu Yên Thế nói.



Những hiện tượng lấn chiếm đã kéo dài qua nhiều giai đoạn lịch sử, nhưng bản chất vi phạm không có gì để biện minh. Câu chuyện xử lý, khôi phục không gian cho các di tích cũng nên được đặt ra nghiêm túc. Nếu để người dân tiếp tục sinh sống, xây dựng trong khu vực cần bảo vệ, nguy cơ di tích bị biến đổi luôn hiện hữu. Với di sản, đó còn là sự lãng phí một nguồn tài nguyên văn hóa và nghệ thuật”, nhà nghiên cứu Trần Hậu Yên Thế nhận định.
Tuy nhiên, việc nhận diện không gian lịch sử rộng hơn không đồng nghĩa có thể tùy ý xác lập lại quyền sử dụng đất hiện nay. Các vấn đề về ranh giới, quyền quản lý và hành vi lấn chiếm phải được xác định dựa trên hồ sơ và quy định pháp luật.
Với những trường hợp đã có căn cứ xác định là lấn chiếm, nhà nghiên cứu cho rằng việc tồn tại trong thời gian dài không làm thay đổi bản chất của sai phạm.
Không thể gom mọi trường hợp thành 'lấn chiếm'
Kiến trúc sư Trần Huy Ánh - Ủy viên Thường vụ Hội Kiến trúc sư Hà Nội - lưu ý tình trạng người dân sinh sống trong các di tích, đình, chùa hay công trình công cộng ở Hà Nội là hiện tượng khá phổ biến trong lịch sử phát triển đô thị.
Theo ông, có những trường hợp người dân lấn vào di tích hình thành trong thời kỳ thành phố thiếu nhà ở, khi trường học, cơ quan và nhiều công trình khác được bố trí một phần diện tích làm chỗ ở. Chính sách quản lý nhà, đất thực tế cũng thay đổi qua nhiều giai đoạn.
Vì vậy, không thể chỉ nhìn hiện trạng hôm nay rồi mặc nhiên coi mọi hộ dân đang sống trong hoặc cạnh một di tích là người lấn chiếm.
“Có những tình huống xảy ra từ trước khi Luật Đất đai ra đời. Chính sách nhà ở cũng thay đổi qua nhiều thời kỳ. Vì vậy, những tình huống tồn tại đến hôm nay là sản phẩm của cả một quá trình quản lý đất đai, nhà cửa qua nhiều giai đoạn khác nhau. Khi xem xét từng trường hợp phải đặt nó vào đúng bối cảnh và chính sách của thời kỳ đó”, kiến trúc sư Trần Huy Ánh nói.

Theo ông, việc phân định phải dựa trên nguồn gốc sử dụng đất, thời điểm phát sinh, chính sách khi đó và quá trình quản lý sau này. Việc làm rõ lịch sử sử dụng đất không nhằm hợp thức hóa sai phạm mà để tránh đánh đồng những trường hợp có bản chất khác nhau.
Bảo tồn di tích nhưng không để người dân chịu thiệt
Kiến trúc sư Trần Huy Ánh nhận định khi giá trị di sản ngày càng được coi trọng, nhu cầu phục hồi cảnh quan và tổ chức lại không gian di tích là chính đáng. Tuy nhiên, với những hộ dân có quyền lợi hợp pháp, quá trình này cần đi kèm đối thoại, bồi thường và hỗ trợ phù hợp.
“Chúng ta thấy giá trị của di sản lớn hơn, muốn phục hồi cảnh quan cần đối thoại với người dân bằng những điều kiện đền bù, hỗ trợ bảo đảm công bằng, hợp lý. Không thể chỉ nói một cách đơn giản rằng bên này đúng, bên kia sai”, ông Ánh nêu quan điểm.
Ông dẫn kinh nghiệm của quận Hoàn Kiếm (cũ) trong việc di chuyển các hộ dân khỏi một số di tích. Đây là quá trình kéo dài nhiều năm, đòi hỏi nguồn lực, quyết tâm của chính quyền và cách xử lý phù hợp với từng gia đình.
“Có những hộ đã sống ở sát bên di tích Đền Bà Kiệu 70 năm, qua nhiều thế hệ cha mẹ, anh em. Để giải quyết được những trường hợp như vậy cần quyết tâm chính trị rất cao, nhưng cũng phải thông minh và nhân văn, chứ không đơn giản là cưỡng chế. Khi xem xét bất cứ vấn đề nào, chúng ta không nên chỉ nhìn vào hiện trạng hôm nay. Phía sau có nhiều lớp lịch sử cần được làm rõ”, ông Ánh nói với PV Tiền Phong.
Theo kiến trúc sư, đô thị là thực thể liên tục biến đổi. Những giải pháp nhà ở từng đáp ứng nhu cầu cấp thiết trong một giai đoạn có thể trở thành vấn đề của nhiều thập niên sau. Vì thế, xử lý các tồn dư về nhà, đất cần nhìn xuyên suốt quá trình hình thành thay vì áp tiêu chuẩn của hiện tại một cách máy móc.
“Một tiến trình lịch sử có những thời điểm và điều kiện khác nhau. Khi xem xét những vấn đề nhà, đất để lại qua nhiều thời kỳ, cần nhìn xuyên suốt bối cảnh đó thay vì lấy tiêu chuẩn của hôm nay áp cứng cho mọi trường hợp”, chuyên gia phân tích.

Vấn đề đặt ra là phải tách bạch những sai phạm lấn chiếm đã được xác định với các trường hợp cư trú hình thành từ chính sách hoặc hoàn cảnh lịch sử.
Thanh tra Chính phủ đề nghị Bảo tàng Lịch sử quốc gia phối hợp cơ quan có thẩm quyền làm rõ việc để cá nhân lấn chiếm đất công. UBND TP Hà Nội được yêu cầu giao Thanh tra thành phố cùng các cơ quan có thẩm quyền làm rõ dấu hiệu hủy hoại tài sản công, lấn chiếm đất công và việc cấp giấy chứng nhận tại cơ sở nhà, đất này.
