Dragon Capital: Dòng tiền vào chứng khoán Việt Nam chỉ mang tính một lần, thị trường vẫn biến động mạnh
Đây là nhận định của Dragon Capital về thị trường chứng khoán Việt Nam khi thị trường vẫn biến động mạnh. Điều này cũng đặt ra vấn đề nhu cầu huy động nguồn vốn lớn cho nền kinh tế ngày càng cấp thiết.
Phát biểu tại Hội thảo "Tái cấu trúc các kênh dẫn vốn" do Báo Tài chính - Đầu tư tổ chức sáng 15/7, bà Đặng Nguyệt Minh, Giám đốc Nghiên cứu Dragon Capital cho rằng Việt Nam đang bước vào giai đoạn tăng trưởng mới với nhu cầu vốn chưa từng có, buộc nền kinh tế phải dịch chuyển từ mô hình phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng sang phát triển mạnh thị trường vốn.
Theo bà Minh, mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045 đồng nghĩa Việt Nam phải duy trì tăng trưởng GDP bình quân ở mức hai con số. Để đạt được mục tiêu này, tỷ lệ đầu tư toàn xã hội cần tương đương khoảng 40% GDP, với tổng nhu cầu vốn lên tới 1.500 tỷ USD trong giai đoạn 2026 - 2030, gấp đôi giai đoạn trước.
Theo tính toán của Dragon Capital, tín dụng ngân hàng chỉ có thể đáp ứng khoảng 25 - 30% nhu cầu vốn trong 5 năm tới, trong khi dòng vốn FDI và FPI đóng góp thêm khoảng 15 - 20%. Như vậy, mỗi năm Việt Nam vẫn thiếu khoảng 120 - 150 tỷ USD, cần được bù đắp thông qua thị trường trái phiếu và thị trường cổ phiếu.

Chỉ còn 3 - 5 năm để phụ thuộc vào tín dụng
Dragon Capital cho biết hiện tỷ lệ tín dụng trên GDP của Việt Nam đã lên tới khoảng 146%. Mặc dù chưa phải mức cao nhất trong khu vực, song nếu tín dụng tiếp tục tăng trưởng 15 - 16% mỗi năm, chỉ trong 3 - 5 năm tới, Việt Nam sẽ vượt nhiều quốc gia trong khu vực về chỉ số này.
"Chúng ta chỉ còn khoảng 3-5 năm nữa để có thể tiếp tục phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng", bà Minh nhấn mạnh.
Không chỉ dư địa tín dụng ngày càng thu hẹp, việc phụ thuộc quá lớn vào ngân hàng còn khiến chi phí vốn của nền kinh tế gia tăng. Trong bối cảnh các ngân hàng phải tuân thủ các chuẩn mực an toàn vốn cao hơn, tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn sẽ tiếp tục giảm, kéo theo chi phí huy động vốn dài hạn tăng lên.
Giám đốc Nghiên cứu Dragon Capital cho biết tại các nền kinh tế phát triển, ngân hàng chủ yếu đảm nhiệm vai trò cung cấp vốn lưu động, vốn ngắn hạn và tín dụng tiêu dùng, trong khi các khoản đầu tư hạ tầng hay mở rộng sản xuất dài hạn được tài trợ chủ yếu thông qua thị trường vốn.
Ngược lại, tại Việt Nam, khoảng 75 - 80% nhu cầu vốn vẫn do hệ thống ngân hàng đáp ứng, còn thị trường vốn mới đóng góp khoảng 20 - 25%.
Theo bà Minh, vốn cổ phần là nguồn vốn dài hạn nhất bởi doanh nghiệp không phải chịu áp lực hoàn trả dòng tiền định kỳ như vốn vay. Trong khi đó, trái phiếu giúp cân đối kỳ hạn giữa nguồn vốn và mục đích đầu tư.

Nghịch lý: Việt Nam có đủ lợi thế nhưng vốn ngoại vẫn rút ròng
Theo Dragon Capital, Việt Nam đang sở hữu hàng loạt yếu tố hấp dẫn nhà đầu tư như tăng trưởng kinh tế cao, lợi nhuận doanh nghiệp tích cực, định giá hấp dẫn, cải cách hành chính, xu hướng China+1, dân số trẻ và triển vọng nâng hạng thị trường.
Tuy nhiên, nghịch lý là tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán hiện chỉ còn khoảng 12% vốn hóa, giảm một nửa so với giai đoạn đỉnh năm 2016.
Bà Minh cho rằng nguyên nhân không chỉ nằm ở dòng vốn toàn cầu mà còn xuất phát từ cấu trúc cung - cầu của thị trường.
Về phía cung, cơ cấu vốn hóa hiện quá tập trung vào hai nhóm ngân hàng và bất động sản, chiếm khoảng 63% toàn thị trường. Trong khi đó, các lĩnh vực được kỳ vọng dẫn dắt tăng trưởng như sản xuất, công nghệ và tiêu dùng lại có tỷ trọng khá thấp.
"Nhà đầu tư rất thích câu chuyện vĩ mô của Việt Nam, nhưng khi nhìn vào thị trường thì hàng hóa để đầu tư lại chưa đủ hấp dẫn", bà Minh nhận định.
Dragon Capital kỳ vọng làn sóng IPO và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước sẽ góp phần cải thiện cơ cấu này, đồng thời cần có nhiều cơ chế khuyến khích hơn đối với các doanh nghiệp công nghệ cao tham gia niêm yết.

Kích hoạt dòng vốn nội địa là lời giải bền vững
Đại diện Dragon Capital cho rằng bên cạnh việc thu hút vốn ngoại, Việt Nam đang bỏ ngỏ nguồn lực quan trọng nhất là dòng vốn trong nước.
Hiện tổng tài sản các quỹ đầu tư trong nước chỉ khoảng 32 tỷ USD, tương đương 6% GDP, trong đó phần lớn là trái phiếu. Riêng các quỹ mở đầu tư cổ phiếu chỉ chiếm dưới 1% giá trị vốn hóa thị trường.
Đáng chú ý, sau gần 10 năm triển khai, tổng tài sản của toàn bộ hệ thống quỹ hưu trí tự nguyện mới đạt khoảng 81 triệu USD, thấp hơn rất nhiều so với Indonesia (khoảng 21 tỷ USD) hay Ấn Độ (40-50 tỷ USD).
Theo bà Minh, Việt Nam cần sớm có các chính sách ưu đãi, đặc biệt về thuế, để khuyến khích người dân đầu tư dài hạn thông qua các quỹ đầu tư và quỹ hưu trí.
Việc hình thành dòng tiền đầu tư định kỳ từ nhà đầu tư trong nước cũng sẽ giúp giảm biến động của thị trường chứng khoán. Bởi hiện nay, dòng tiền trên thị trường chủ yếu mang tính một lần, trong khi tại nhiều quốc gia, các quỹ đầu tư và quỹ hưu trí liên tục giải ngân định kỳ, góp phần ổn định thị trường ngay cả khi giá cổ phiếu điều chỉnh.
“Dòng tiền vào Việt Nam chỉ mang tính chất 1 lần trong khi thị trường vẫn còn biến động rất cao”, chuyên gia Dragon Capital cho hay.
Khép lại phần trình bày, bà Minh cho rằng Việt Nam cần đồng thời thực hiện ba nhóm giải pháp gồm nâng chất lượng hàng hóa trên thị trường vốn, phát triển các quỹ đầu tư trong nước và tiếp tục hoàn thiện.
