Lãnh đạo Viettel cho biết phải mất 11 năm đi xin cơ chế tiền lương đặc thù, dự án sản xuất chip cũng gặp rất nhiều khó khăn về công nghệ
Đại diện Viettel nhấn mạnh cần có lộ trình rõ ràng để từng bước làm chủ các công nghệ cốt lõi.
Theo VietNamNet, tại hội nghị "Thể chế khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số - Tháo gỡ điểm nghẽn và kiến tạo phát triển" do Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức, ông Nguyễn Đạt, Phó Tổng Giám đốc Viettel, cho biết tập đoàn đã có hơn 20 năm hoạt động trong lĩnh vực khoa học, công nghệ cao và từng trải qua giai đoạn gặp nhiều vướng mắc về cơ chế.
Ông dẫn một ví dụ là việc xây dựng cơ chế tiền lương đặc thù để thu hút chuyên gia khoa học công nghệ đã mất tới 11 năm mới được tháo gỡ. Ngay sau khi Nghị quyết 57 được ban hành, Viettel cũng ban hành nghị quyết của doanh nghiệp cùng kế hoạch hành động chi tiết để triển khai phát triển các công nghệ chiến lược bằng chính nguồn lực của mình.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, Ban Tổng Giám đốc Viettel đã kiến nghị Bộ Quốc phòng và Chính phủ bổ sung thêm hai Phó Tổng Giám đốc trực tiếp phụ trách lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao.

Hiện nay, trong tổng số 8 thành viên Ban Tổng Giám đốc, có 4 người chuyên trách trực tiếp lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao, thể hiện quyết tâm của lãnh đạo cấp cao trong việc triển khai Nghị quyết 57. Ông Nguyễn Đạt cho rằng, đến thời điểm hiện tại, "thể chế đã sẵn sàng, vấn đề còn lại là cách hành động".
Theo Phó Tổng Giám đốc Viettel, để các sản phẩm công nghệ chiến lược của Việt Nam có thể được triển khai trên quy mô lớn và vươn ra thị trường toàn cầu, cần đáp ứng đủ ba điều kiện. Thứ nhất là làm chủ công nghệ lõi ở trình độ tiên tiến. Ông cho biết các công nghệ cốt lõi hiện nay hầu như không được chuyển giao.
Ngay cả với dự án nhà máy sản xuất chip 32nm, việc tiếp cận công nghệ từ tập đoàn nước ngoài cũng gặp rất nhiều khó khăn, đòi hỏi Viettel phải có lộ trình làm chủ nếu muốn triển khai quy mô lớn và cạnh tranh.
Điều kiện thứ hai là cần có thị trường làm bệ đỡ. Theo ông, đây là một lợi thế của Viettel khi vừa sở hữu thị trường trong nước, vừa có hơn 10 thị trường quốc tế mà tập đoàn đang đầu tư để tiêu thụ các sản phẩm công nghệ.
Điều kiện thứ ba là hình thành hệ sinh thái công nghiệp. Lấy ví dụ về thiết bị 5G, ông cho biết Viettel đã làm chủ khâu thiết kế và sản xuất, tuy nhiên nhiều linh kiện vẫn phải nhập khẩu.
Do đó, cần phát triển mạng lưới doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia sản xuất linh kiện, tương tự mô hình của ngành công nghiệp ô tô, trong đó các doanh nghiệp lớn tập trung phát triển công nghệ lõi, còn các doanh nghiệp vệ tinh đảm nhiệm sản xuất những thành phần khác.
Chia sẻ thêm về chiến lược phát triển công nghệ chiến lược, Chủ tịch Viettel Tào Đức Thắng nhận định lượng tử, bán dẫn và vật liệu tiên tiến đều là những lĩnh vực có vai trò rất quan trọng.
Tuy nhiên, theo ông, các công nghệ lõi như chế tạo chip bán dẫn sẽ không dễ dàng được chuyển giao. Vì vậy, cần xác định lộ trình rõ ràng và từng bước phát triển bằng chính năng lực của mình.
Ông cho biết kinh nghiệm của Viettel là "vừa làm vừa phối hợp". Tập đoàn không thay thế vai trò của các viện nghiên cứu hay trường đại học mà luôn phối hợp chặt chẽ với các đơn vị này để từng bước làm chủ công nghệ.
Đối với các lĩnh vực như công nghệ lượng tử, vật liệu, vệ tinh và radar, nền tảng đều là khoa học cơ bản. Vì vậy, cần có sự tham gia của các cơ sở nghiên cứu và đào tạo nhằm xây dựng nguồn nhân lực phục vụ phát triển lâu dài.
Ông Tào Đức Thắng cũng cho biết Viettel lựa chọn hướng phát triển công nghệ theo lộ trình từ nhỏ đến lớn, bắt đầu từ mô phỏng, chế tạo mẫu rồi từng bước làm chủ công nghệ; phần nào tự làm được thì tự làm, phần nào chưa làm được thì hợp tác.
Bên cạnh đó, mỗi nhóm công nghệ chiến lược đều phải gắn với một sản phẩm chiến lược cụ thể để tạo thuận lợi cho quá trình triển khai.