Mỏ khí 248 tỷ m3 ngoài khơi Việt Nam sắp đạt quyết định đầu tư cuối cùng, tổng vốn ước gần 5 tỷ USD
Với tổng trữ lượng khí gấp 1,5 lần quy mô Lô B – Ô Môn, dự án Cá Voi Xanh được kỳ vọng mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp dầu khí thượng nguồn như PVS, PVD và GAS.
Ngày 8/6/2026, Tổng CTCP Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC, HNX: PVS) đã cập nhật kết quả sản xuất kinh doanh năm 2025, tình hình thực hiện kế hoạch 5 tháng đầu năm 2026 và định hướng phát triển giai đoạn 2026–2030.

Trong 5 tháng đầu năm 2026, doanh thu hợp nhất ước đạt 13.515 tỷ đồng (+34% YoY); lợi nhuận trước thuế đạt 688 tỷ đồng (+12% YoY). Với kết quả này, PTSC đã hoàn thành 41% kế hoạch doanh thu (33.000 tỷ đồng) và 54% mục tiêu lợi nhuận (1.270 tỷ đồng).
Trong 5 tháng đầu năm, nhiều hạng mục, dự án lớn được PTSC triển khai theo đúng định hướng mở rộng quy mô hoạt động. Tổng công ty đã hạ thủy chân đế giàn nhà ở dự án Lô B; thực hiện first-cut dự án Formosa 4 OSS; hạ thủy các module HRSG; hạ thủy FSO Lạc Đà Vàng; hoàn thành thi công và hạ thủy cọc, chân đế dự án FengMiao 1; đồng thời ký hợp đồng dự án Sư Tử Trắng 2B. Mặc dù khối lượng công việc ở mức cao, PTSC vẫn duy trì kiểm soát tiến độ các dự án trọng điểm, tạo dư địa cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong các tháng còn lại của năm.
Về đầu tư, PTSC đặt kế hoạch năm 2026 ở mức 2.843 tỷ đồng, tập trung vào các hạng mục nhằm nâng cao năng lực dài hạn như cầu cảng, cổng trục Goliath, tàu AHTS, tàu khảo sát địa vật lý, tàu khảo sát địa chất công trình, hệ thống ROV Workclass, hạ tầng công nghệ thông tin và hệ thống ERP.
Mở rộng thị trường quốc tế tiếp tục là một trong những định hướng trọng tâm trong giai đoạn tới. PTSC định hướng gia tăng hiện diện tại Trung Đông, Đông Nam Á, Đài Loan, châu Âu và châu Úc, tập trung vào các lĩnh vực như EPCI, HUC, Brownfield Modification, tàu dịch vụ, ROV, vận hành – bảo dưỡng, chế tạo chân đế và trạm biến áp cho các dự án điện gió ngoài khơi. Trong đó, Trung Đông được xác định là thị trường ưu tiên, với các cơ hội trong lĩnh vực EPCI, HUC, Brownfield Modification cũng như các dự án nâng cấp, mở rộng hạ tầng dầu khí.
PTSC/POS cũng đang triển khai thủ tục thành lập công ty con tại một số thị trường mục tiêu nhằm tăng cường hiện diện thương mại, nâng cao khả năng tiếp cận khách hàng, hỗ trợ đấu thầu, quản lý hợp đồng và triển khai dự án tại nước ngoài.
Giai đoạn 2026–2030, PTSC đặt mục tiêu tổng doanh thu hợp nhất đạt 210.000–220.000 tỷ đồng, tăng trưởng bình quân 15%; ROA bình quân trên 4%; tỷ lệ cổ tức hằng năm từ 7–10%; doanh thu năm 2030 hướng tới mốc 60.000 tỷ đồng.
Liên quan đến kế hoạch dài hạn, ban lãnh đạo cho biết dự án khí Cá Voi Xanh có khả năng đạt quyết định đầu tư cuối cùng (FID) vào năm 2027, sớm hơn kỳ vọng của Chứng khoán Vietcap.
Dự án Cá Voi Xanh là một trong những chuỗi khí – điện tích hợp lớn nhất Việt Nam, nằm ngoài khơi, cách bờ biển miền Trung khoảng 100 km, do ExxonMobil nắm 64% và Tập đoàn Công nghiệp – Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PVN) sở hữu 36%.
Tổng trữ lượng khí thu hồi dự kiến khoảng 248 tỷ m3 khí thô (tương đương 150 tỷ m3 khí hydrocarbon), gấp 1,5 lần quy mô dự án Lô B – Ô Môn. Khí từ dự án sẽ cung cấp cho 5 nhà máy điện khu vực miền Trung, với tổng công suất khoảng 3.750 MW – tương đương cụm nhiệt điện Ô Môn I–IV.
Vietcap dự báo quyết định đầu tư cuối cùng (FID) có thể được thông qua trong giai đoạn 2027–2028, với dòng khí đầu tiên dự kiến vào năm 2033. Tổng vốn đầu tư cho giai đoạn thượng nguồn và trung nguồn ước tính khoảng 5 tỷ USD.
Dự án Cá Voi Xanh được kỳ vọng mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp dầu khí thượng nguồn như PVS, PVD và GAS. Trong đó, PVS có thể là bên hưởng lợi sớm nhất, do gói thầu EPCI giàn khai thác là hạng mục bắt buộc triển khai trước khi toàn bộ chuỗi hạ tầng còn lại được thi công. Quá trình trao thầu và khởi công có thể diễn ra ngay sau khi FID được thông qua.
Về các cơ hội ngắn hạn, các dự án dầu khí tại Trung Đông được xem là động lực tăng trưởng cho dự báo lợi nhuận năm 2027 của Vietcap. Trong khi đó, khối lượng công việc lớn từ dự án Cá Voi Xanh, các dự án điện gió ngoài khơi của PVN, xuất khẩu điện gió sang Singapore và điện hạt nhân được xác định là động lực tăng trưởng cho giai đoạn 2028–2030.
Ban lãnh đạo cũng kỳ vọng giai đoạn 2026–2028 sẽ là chu kỳ đầu tư mạnh nhằm nâng cao năng lực, tạo nền tảng cho tăng trưởng trong giai đoạn 2029–2030. Trong đó, các đợt tăng vốn lớn nhiều khả năng sẽ tập trung vào giai đoạn 2028–2029, tương ứng với các mốc FID của các dự án trọng điểm như cáp ngầm và xuất khẩu điện gió ngoài khơi.
