Mỗi hộ gia đình được tặng 3.000.000 đồng từ ngân sách nhà nước, ai thuộc nhóm đối tượng hưởng, cụ thể ra sao?
Chi tiết nhóm đối tượng được tặng 3.000.000 đồng từ ngân sách nhà nước và trong dịp nào?
Theo khoản 2 Điều 14 Nghị định 335/2026/NĐ-CP, một số cá nhân, hộ gia đình và cơ quan, đơn vị thuộc diện quy định được thăm hỏi, tặng quà bằng tiền mặt và hiện vật khi gặp khó khăn, thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, thảm họa, tai nạn hoặc các nguyên nhân bất khả kháng khác.
Đối với quà tặng của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, mức hỗ trợ được quy định theo từng nhóm đối tượng.
Cụ thể, cơ quan, đơn vị được tặng 5.000.000 đồng tiền mặt và hiện vật trị giá 500.000 đồng; hộ gia đình được tặng 3.000.000 đồng tiền mặt và hiện vật trị giá 500.000 đồng; cá nhân được tặng 1.000.000 đồng tiền mặt và hiện vật trị giá 500.000 đồng.

Trong khi đó, trường hợp quà tặng do lãnh đạo bộ, lãnh đạo cơ quan Trung ương hoặc lãnh đạo cơ quan cấp tỉnh thực hiện, cơ quan, đơn vị được tặng 3.000.000 đồng tiền mặt và hiện vật trị giá 500.000 đồng; hộ gia đình được tặng 2.000.000 đồng và hiện vật trị giá 300.000 đồng; cá nhân được tặng 1.000.000 đồng và hiện vật trị giá 300.000 đồng.
Các đối tượng được xem xét thăm hỏi, tặng quà gồm cá nhân, hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, thảm họa, tai nạn giao thông, tai nạn lao động nghiêm trọng hoặc các lý do bất khả kháng khác.
Ngoài ra, cá nhân bị ốm đau, bệnh tật và có hoàn cảnh khó khăn cũng thuộc diện được xem xét hỗ trợ. Các cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở hỗ trợ nạn nhân mua bán người, cơ sở y tế và những cơ quan, tổ chức khác bị thiệt hại bởi các nguyên nhân nêu trên cũng thuộc nhóm đối tượng áp dụng.
Như vậy, nếu thuộc diện được quy định, hộ gia đình chịu ảnh hưởng do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, thảm họa, tai nạn giao thông, tai nạn lao động nghiêm trọng hoặc các nguyên nhân bất khả kháng khác có thể được lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ hoặc Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thăm hỏi, tặng 3.000.000 đồng tiền mặt cùng hiện vật trị giá 500.000 đồng.
Trẻ em dưới 16 tuổi trường hợp nào được trợ giúp xã hội?
Theo khoản 1 Điều 5 Nghị định 335/2026/NĐ-CP, trẻ em dưới 16 tuổi được hưởng chính sách trợ giúp xã hội nếu thuộc một trong các trường hợp được pháp luật quy định.
Nhóm này bao gồm trẻ em bị bỏ rơi và chưa có người nhận làm con nuôi; trẻ em có cả cha và mẹ đã chết hoặc một người đã chết, người còn lại không xác định được.
Trẻ em cũng thuộc diện trợ giúp nếu có cha hoặc mẹ đã chết hoặc không xác định được, trong khi người còn lại bị tuyên bố mất tích; đang được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội; hoặc đang chấp hành án phạt tù, quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Ngoài ra, trường hợp cả cha và mẹ bị tuyên bố mất tích; cả cha và mẹ đang được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội; hoặc cả hai đang chấp hành án phạt tù hay quyết định xử lý vi phạm hành chính tại các cơ sở theo quy định cũng thuộc diện được trợ giúp.
Chính sách cũng áp dụng với trẻ có cha hoặc mẹ bị mất tích, trong khi người còn lại đang được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội hoặc đang chấp hành án phạt tù, quyết định xử lý vi phạm hành chính theo quy định.
Trường hợp một người đang được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội còn người kia đang chấp hành án phạt tù hoặc quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc cũng thuộc nhóm đối tượng này.
Hộ gia đình nào được hỗ trợ làm, sửa chữa nhà ở?
Khoản 4 Điều 12 Nghị định 335/2026/NĐ-CP quy định chính sách hỗ trợ làm nhà ở, sửa chữa nhà ở đối với một số hộ gia đình gặp thiệt hại nghiêm trọng.
Theo đó, hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn có nhà ở bị đổ, sập, trôi hoặc cháy hoàn toàn do thiên tai, hỏa hoạn hoặc các nguyên nhân bất khả kháng khác, đồng thời không còn nơi ở, được xem xét hỗ trợ chi phí làm nhà ở với mức thấp nhất 40.000.000 đồng/hộ.
Đối với hộ gia đình phải di dời nhà ở khẩn cấp theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền do nguy cơ sạt lở, lũ, lụt, thiên tai, hỏa hoạn hoặc các nguyên nhân bất khả kháng khác, mức hỗ trợ chi phí di dời nhà ở thấp nhất 30.000.000 đồng/hộ.

Trong trường hợp hộ nghèo, hộ cận nghèo hoặc hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn có nhà ở bị hư hỏng nặng do thiên tai, hỏa hoạn hoặc các nguyên nhân bất khả kháng khác đến mức không thể ở được, hộ gia đình được xem xét hỗ trợ chi phí sửa chữa nhà ở với mức thấp nhất 20.000.000 đồng/hộ.
Các mức trên là mức hỗ trợ tối thiểu theo quy định; việc hỗ trợ cụ thể được thực hiện theo điều kiện, mức độ thiệt hại và quy định có liên quan.
