NHNN đặt mục tiêu đến 2030: Xử lý tổ chức tín dụng yếu kém, mở rộng cửa vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
Đề án mới đặt mục tiêu đến năm 2030 xây dựng Ngân hàng Nhà nước thành ngân hàng trung ương hiện đại, xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém.

Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng vừa ký Quyết định số 1809/QĐ-TTg ngày 18/9/2026 phê duyệt Đề án “Tiếp tục hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa”.
Mục tiêu tổng quát của Đề án là đến năm 2030 xây dựng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trở thành ngân hàng trung ương hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, dựa trên nền tảng quản trị tiên tiến và dữ liệu số.
Cơ quan này được định hướng có năng lực hoạch định, điều hành chính sách, phân tích, dự báo, cảnh báo sớm và ra quyết định kịp thời dựa trên dữ liệu, theo thông lệ quốc tế phù hợp với điều kiện Việt Nam; chủ động thích ứng với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và hội nhập quốc tế.
Qua đó, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đạt mục tiêu tăng trưởng “2 con số”, đồng thời bảo đảm an toàn, ổn định của hệ thống tiền tệ, ngân hàng.
Đề án gồm 4 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu: nhóm nhiệm vụ, giải pháp chung; hiện đại hóa hệ thống ngân hàng; xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém; tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Tăng tính hiện đại của hệ thống ngân hàng
Về chính sách tiền tệ, Đề án định hướng đổi mới khuôn khổ điều hành theo hướng kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.
Ngân hàng Nhà nước được định hướng tăng tính độc lập trong điều hành chính sách tiền tệ; chuyển dần từ điều hành theo khối lượng sang chủ yếu điều hành theo giá, sử dụng các công cụ gián tiếp. Việc điều hành tiếp tục bám sát diễn biến kinh tế, thị trường tài chính, tiền tệ trong và ngoài nước, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác.
Trong quản lý ngoại hối, tiếp tục thực hiện chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý, điều hành tỷ giá linh hoạt nhằm hấp thu các cú sốc, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát. Công tác quản lý dự trữ ngoại hối Nhà nước được định hướng bảo đảm an toàn, thanh khoản và sinh lời.
Đề án cũng yêu cầu tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các mô hình dự báo kinh tế, hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu phục vụ điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng; từng bước ứng dụng các công cụ phân tích hiện đại để nâng cao độ chính xác, kịp thời của công tác dự báo.
Hệ thống thanh toán cũng được định hướng hiện đại hóa. Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng sẽ được xây dựng, phát triển, quản lý và vận hành theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại; hệ thống chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử được phát triển theo Chiến lược phát triển các hệ thống thanh toán Việt Nam đến năm 2030.
Hạ tầng thanh toán quốc gia được hiện đại hóa theo hướng tập trung, thống nhất, an toàn theo tiêu chuẩn quốc tế, chuẩn hóa yêu cầu kết nối, bảo đảm liên thông và xử lý xuyên suốt.
Đề án đặt yêu cầu tăng ứng dụng dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây, giao diện lập trình ứng dụng mở và các công nghệ số tiên tiến trong quản trị, giám sát hoạt động thanh toán, nhận diện và phòng, chống gian lận, bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống.
Trong giai đoạn 2026-2027, hệ sinh thái thanh toán số tiếp tục được hoàn thiện, tăng kết nối giữa hệ thống ngân hàng với thuế, hải quan, y tế, giáo dục, giao thông, an sinh xã hội, dịch vụ công và thương mại điện tử. Việc mở rộng kết nối thanh toán bán lẻ song phương xuyên biên giới qua mã QR cũng được triển khai nhằm thúc đẩy hội nhập tài chính quốc tế.
Các tổ chức tín dụng được định hướng nghiên cứu, phát triển dịch vụ và hình thức thanh toán mới như QR code, tokenization, mobile payment và contactless; phát triển dịch vụ thanh toán bán lẻ, thanh toán điện tử phục vụ thương mại điện tử và các mô hình thanh toán phù hợp khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
Không để tổ chức tín dụng yếu kém đổ vỡ ngoài tầm kiểm soát
Đối với các tổ chức tín dụng yếu kém, gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng và quỹ tín dụng nhân dân, Đề án yêu cầu phê duyệt phương án cơ cấu lại cụ thể, giám sát việc thực hiện và xử lý các khó khăn, vướng mắc theo thẩm quyền.
Mục tiêu đến năm 2030 là xây dựng, phê duyệt và tổ chức triển khai các phương án cơ cấu lại hoặc phương án xử lý phù hợp quy định pháp luật, không để xảy ra đổ vỡ và mất an toàn hoạt động ngân hàng ngoài tầm kiểm soát của Nhà nước.
Riêng với quỹ tín dụng nhân dân yếu kém, các giải pháp sẽ được triển khai đồng bộ theo Đề án “Cơ cấu lại tổng thể hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2045”.
Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của các tổ chức tín dụng và phòng, chống rửa tiền được tăng cường, cùng với cảnh báo sớm. Cơ quan quản lý sẽ đánh giá, nhận diện, cảnh báo và có phương án xử lý các sai phạm, đặc biệt về sở hữu, cấp tín dụng, quản lý vốn vay và chấp hành các quy định về an toàn hoạt động.
Đề án cũng yêu cầu theo dõi các tổ chức tín dụng có mức độ tập trung tín dụng cao, tốc độ tăng trưởng tín dụng cao, tỷ lệ nợ xấu cao hoặc dư nợ tại các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro tăng nhanh, chiếm tỷ trọng lớn để phát hiện rủi ro và có biện pháp cảnh báo, chấn chỉnh, xử lý kịp thời.
Các tổ chức tín dụng được yêu cầu nâng cao năng lực quản trị, quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ, tài chính; tuân thủ các giới hạn an toàn, chất lượng tín dụng và quy định về giao dịch với cổ đông, người có liên quan.
Đồng thời, tăng cường kiểm tra, kiểm soát, kiểm toán nội bộ đối với hoạt động cấp tín dụng, mức độ tập trung tín dụng, đầu tư trái phiếu doanh nghiệp; nâng cao chất lượng thẩm định, kiểm tra sử dụng vốn vay và đẩy mạnh thu hồi, xử lý nợ xấu.
Đề án cũng yêu cầu tăng cường năng lực tài chính và khả năng chống chịu của các tổ chức tín dụng; thực hiện đầy đủ quy định về phân loại nợ, trích lập dự phòng, định giá, quản lý và xử lý tài sản bảo đảm.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa được mở rộng khả năng tiếp cận vốn
Một mục tiêu quan trọng của Đề án là đến năm 2030 doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, được tiếp cận nguồn vốn thuận lợi, kịp thời và phù hợp với nhu cầu phát triển sản xuất, kinh doanh, mức độ sẵn sàng và đặc thù từng loại hình, ngành nghề, quy mô.
Để thực hiện mục tiêu này, khung khổ pháp lý về hoạt động tín dụng, ngân hàng tiếp tục được rà soát, hoàn thiện, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng cấp tín dụng cho doanh nghiệp.
Cơ chế, chính sách về bao thanh toán cũng được hoàn thiện nhằm tạo điều kiện cho hoạt động này phát triển, qua đó mở rộng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, giúp cải thiện dòng tiền, giảm phụ thuộc vào tài sản bảo đảm và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Các tổ chức tín dụng được định hướng cho vay dựa trên phương án sản xuất kinh doanh, phương án mở rộng thị trường đầu ra; cho vay theo chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng; dựa trên dữ liệu thanh toán, dòng tiền và các loại hình tài sản bảo đảm phù hợp quy định pháp luật.
Đồng thời, các ngân hàng được yêu cầu tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh; hướng tín dụng vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng kinh tế.
Đề án cũng yêu cầu phát triển đa dạng sản phẩm tín dụng phù hợp với từng loại hình và nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa; tăng ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số trong cấp tín dụng và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Đối với quỹ tín dụng nhân dân, các giải pháp nhằm thu hút, mở rộng thành viên trên địa bàn, gồm người dân, hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ... cũng được đặt ra, qua đó tăng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh.