70-80% dân số từng sống dưới ngưỡng nghèo, Việt Nam đi qua 40 năm đổi mới thế nào vươn lên nền kinh tế hơn 500 tỷ USD?
Từ một quốc gia nghèo, từng có 70-80% dân số dưới ngưỡng nghèo, Việt Nam đã vươn lên thành nền kinh tế hơn 500 tỷ USD sau 40 năm đổi mới.

Từ 70-80% dân số sống dưới ngưỡng nghèo, Việt Nam đã thay đổi vị thế ra sao?
Nhìn lại hành trình 40 năm kể từ Đại hội VI năm 1986, Việt Nam đã trải qua một cuộc chuyển mình toàn diện. Từ một quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của đói nghèo, với tỷ lệ người sống dưới ngưỡng nghèo từng chiếm 70-80%, phải liên tục xin viện trợ, Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ. Đến nay, nền kinh tế Việt Nam đứng khoảng thứ 32-33 thế giới, với quy mô GDP vượt 500 tỷ USD.
Đáng chú ý, Ngân hàng Thế giới công bố từ tháng 7/2026, Việt Nam chính thức bước vào nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình cao. Tỷ lệ nghèo đa chiều giảm sâu, còn khoảng 2,95%. Không chỉ cải thiện về thu nhập, vị thế của Việt Nam còn được khẳng định khi trở thành một trong những trung tâm sản xuất hàng tiêu dùng lớn của thế giới, nằm trong nhóm 5 quốc gia xuất khẩu hàng đầu về may mặc, điện tử, máy tính, điện thoại và thuộc nhóm nhất, nhì thế giới về xuất khẩu lương thực, gạo.
Đánh giá chặng đường đã qua trong talkshow "Từ một nước thiếu ăn, Việt Nam đã trở thành nền kinh tế xuất khẩu lớn thế nào?", GS. Hoàng Văn Cường - Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam nhận định thành tựu lớn nhất của công cuộc đổi mới là sự thay đổi căn bản về năng lực phát triển và cơ cấu nền kinh tế. Theo GS. Hoàng Văn Cường, bài học cốt lõi từ năm 1986 là giải phóng sức sản xuất, chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa chỉ định sang cơ chế thị trường để phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn.
Cùng với đó, Việt Nam đã khơi thông các nguồn lực trong nước như nguồn nhân lực, biến tài nguyên đất đai thành nguồn vốn phát triển, đồng thời thu hút mạnh mẽ nguồn lực đầu tư nước ngoài, tạo bệ phóng cho tăng trưởng.
Tuy nhiên, khi bước lên nấc thang phát triển mới, nền kinh tế Việt Nam cũng bộc lộ những điểm nghẽn mang tính chiến lược. Giáo sư Hoàng Văn Cường cho rằng dù kim ngạch xuất khẩu hằng năm đạt mức rất lớn, tiệm cận 500 tỷ USD, phần giá trị thực sự giữ lại cho Việt Nam chỉ khoảng 20%.
Điều này cho thấy tăng trưởng thời gian qua vẫn chủ yếu dựa vào lao động giá rẻ và tài nguyên đầu vào, trong khi giá trị gia tăng trong nước còn hạn chế.

Từ mô hình dựa vào vốn, lao động và tài nguyên sang khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo
Để khắc phục nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình và chuẩn bị cho mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/5/2026 về đổi mới mô hình phát triển đất nước.
Phân tích tinh thần của Nghị quyết 19, ông Cường nhấn mạnh cần phân biệt rõ giữa đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế và đổi mới mô hình phát triển đất nước. Ông ví mô hình phát triển đất nước như một ngôi nhà tổng thể, trong đó mô hình tăng trưởng kinh tế là móng, cột và tường chịu lực.
Theo GS.Hoàng Văn Cường, mô hình phát triển đất nước tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập được cấu thành từ 7 mô hình thành phần gồm kinh tế, xã hội, văn hóa con người, môi trường sinh thái, quốc phòng an ninh, đối ngoại hội nhập và quản trị quốc gia. Nếu chỉ chú trọng kinh tế mà bỏ qua các yếu tố khác, mô hình phát triển sẽ không bền vững. Ngược lại, nếu kinh tế không vững chắc, các mục tiêu còn lại cũng khó thực hiện.
Trong mô hình mới, các trụ cột đều đòi hỏi sự chuyển dịch về tư duy và hành động. Về kinh tế, Việt Nam cần chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa vào vốn, lao động và tài nguyên sang mô hình dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao chất lượng tăng trưởng.
Theo Nghị quyết 57, chỉ số đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp vào tăng trưởng kinh tế được đặt mục tiêu đạt trên 55% vào năm 2030, qua đó thể hiện trình độ sản xuất cao hơn và giảm sự lệ thuộc vào nhân công giá rẻ.
Về môi trường, GS.Hoàng Văn Cường cho rằng cần chuyển từ tư duy "bảo vệ môi trường" thụ động sang "quản trị môi trường", biến các tiêu chuẩn xanh và ESG thành công cụ thu hút đầu tư, gia tăng giá trị sản phẩm.
Về đối ngoại, Việt Nam cần chuyển từ vị thế một người bạn thụ động sang chủ động thiết kế, tạo lập và dẫn dắt các cuộc chơi quốc tế. Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, trọng tâm là làm chủ công nghệ mới, ứng dụng công nghệ thông minh để gia tăng sức mạnh bảo vệ Tổ quốc và tiến tới xuất khẩu các sản phẩm quốc phòng.
Đặc biệt, GS.Hoàng Văn Cường khẳng định quản trị quốc gia là yếu tố bao trùm, quyết định hiệu quả vận hành của các lĩnh vực còn lại. Mô hình quản trị mới đòi hỏi thay đổi lớn về tổ chức bộ máy, phân công, phân quyền và kiểm soát quyền lực chặt chẽ.
Cùng với đó là đổi mới căn bản về thể chế pháp luật, chuyển từ tư duy "quản lý đặt ra để quản" sang "quản trị để phục vụ", tạo điều kiện thuận lợi để các hoạt động kinh tế - xã hội vận hành hiệu quả.
Khi đối chiếu với các mô hình phát triển trên thế giới, từ mô hình thị trường tự do ở Mỹ đến mô hình thị trường xã hội hay nhà nước xã hội tại châu Âu, ông Hoàng Văn Cường cho rằng Việt Nam cần học tập có chọn lọc mô hình Nhà nước kiến tạo của các quốc gia Đông Á như Hàn Quốc, Nhật Bản và Singapore.
Theo ông, Nhà nước kiến tạo không làm thay thị trường mà tôn trọng các quy luật của thị trường, đồng thời sử dụng công cụ chính sách để định hướng, hỗ trợ và dẫn dắt doanh nghiệp. Nhà nước tập trung xây dựng hành lang pháp lý minh bạch, hạn chế cơ chế xin - cho, lấy mức độ hài lòng và sự phát triển của người dân, doanh nghiệp làm thước đo năng lực quản trị.
Để hiện thực hóa mô hình này, xây dựng lực lượng doanh nghiệp nội địa đủ mạnh giữ vai trò then chốt. GS.Hoàng Văn Cường lưu ý tiêu chuẩn của một doanh nghiệp lớn không chỉ nằm ở doanh thu mà còn ở giá trị gia tăng do người Việt Nam tạo ra và khả năng làm chủ công nghệ.
Nhằm nuôi dưỡng các doanh nghiệp dẫn đầu có thể kéo cả mạng lưới doanh nghiệp nhỏ và vừa đi theo, theo ông Cường, Nhà nước cần áp dụng cơ chế đặt hàng dựa trên các tiêu chí khách quan, minh bạch, duy trì môi trường cạnh tranh từ hai đến ba doanh nghiệp và giám sát chặt chẽ để tránh độc quyền, lợi ích nhóm.
Đồng thời, theo tinh thần Nghị quyết 10 về thu hút FDI, Việt Nam cần thay đổi phương thức hợp tác, chỉ ưu đãi cho các nhà đầu tư nước ngoài có cam kết chuyển giao công nghệ và kết nối với doanh nghiệp trong nước, qua đó biến ngoại lực thành nội lực kinh tế tự chủ.
Nền kinh tế Việt Nam cũng đứng trước bài toán phải trở nên giàu hơn trong bối cảnh dân số già hóa nhanh chóng. GS.Hoàng Văn Cường phân tích, già hóa dân số không chỉ tạo áp lực về an sinh xã hội mà còn mở ra cơ hội phát triển "kinh tế bạc", từ cung cấp hạ tầng chăm sóc sức khỏe đến hình thành các quỹ hưu trí tư nhân.
Theo ông, các quỹ hưu chí không chỉ bảo đảm tương lai cho người cao tuổi mà còn có thể trở thành nguồn vốn tài chính để đầu tư phát triển đất nước.
Ngoài ra, để tận dụng các công nghệ mới như AI và chuyển đổi số, yếu tố quyết định hàng đầu vẫn là con người, gồm trình độ lực lượng lao động và năng lực đổi mới của đội ngũ quản trị. Thể chế phải là khâu đột phá số một nhằm giải phóng bộ máy quản lý, tạo môi trường an toàn để cán bộ dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm.
Nhằm đưa các định hướng chiến lược vào thực tiễn, Bộ Chính trị đã ban hành Chương trình hành động số 33-CTr/TW và Chính phủ ban hành Nghị quyết số 217/NQ-CP với 40 chỉ tiêu cụ thể. Trong đó, mục tiêu đến năm 2030 là kinh tế số chiếm từ 30% GDP, Chính phủ số thuộc nhóm 3 ASEAN và Việt Nam nằm trong nhóm 40 thế giới về đổi mới sáng tạo.
Việc cụ thể hóa lộ trình bằng các kế hoạch rõ người, rõ việc, rõ tiến độ và rõ sản phẩm đầu ra sẽ góp phần khắc phục tình trạng chính sách hay nhưng khó triển khai.
Theo lộ trình được xác định, đến năm 2030 Việt Nam sẽ hoàn thành các nền tảng của mô hình mới; đến năm 2035 cơ bản hoàn thành chuyển đổi; hướng tới năm 2045 hoàn thành toàn diện việc chuyển sang mô hình phát triển dựa trên khoa học công nghệ, đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao và nằm trong nhóm 10 quốc gia dẫn đầu châu Á về trí tuệ nhân tạo.