Sông Hồng sẽ thay đổi thế nào trong Quy hoạch Hà Nội tầm nhìn 100 năm?
Quy hoạch Hà Nội tầm nhìn 100 năm đang định hình một vai trò mới cho Sông Hồng, gắn với cấu trúc không gian và các cực phát triển của Thủ đô.

Chủ tịch UBND TP Hà Nội Vũ Đại Thắng vừa ký ban hành Kế hoạch số 331/KH-UBND ngày 24/8/2026 về thực hiện Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm.
Kế hoạch nhằm cụ thể hóa và tổ chức triển khai các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp được xác định tại Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, được thành phố phê duyệt tại Quyết định số 2512/QĐ-UBND ngày 13/5/2026. Đồng thời, Hà Nội xây dựng lộ trình thực hiện các chương trình, đề án, dự án và hệ thống quy hoạch ở các cấp độ, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất và khả thi.
Theo kế hoạch, thành phố xác định rõ nội dung công việc, nhiệm vụ trọng tâm và trách nhiệm chủ trì, phối hợp của từng cơ quan, đơn vị, địa phương. Đây cũng là cơ sở để các sở, ban, ngành và UBND các xã, phường chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch hành động trong phạm vi được giao; đồng thời phục vụ công tác đôn đốc, kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện theo từng giai đoạn.
Đáng chú ý, Hà Nội xác định tổ chức lập tổng cộng 81 quy hoạch trong năm 2026 và phấn đấu hoàn thành phê duyệt toàn bộ theo kế hoạch. Hệ thống này gồm 5 quy hoạch không gian ngầm và chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật, 63 quy hoạch phân khu đô thị và 13 quy hoạch phân khu khu chức năng.
Trong số 81 đồ án, có 47 đồ án, tương đương 58,02%, tiếp tục được thực hiện trên cơ sở kế thừa, phát triển các quy hoạch đã triển khai trước đây; 34 đồ án, chiếm 41,98%, là quy hoạch lập mới theo các định hướng phát triển mới.
Thành phố ưu tiên hoàn thành trước khoảng 22 quy hoạch phân khu đô thị, gồm các quy hoạch phục vụ đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư, khu vực phía Tây Vành đai 4, một số khu vực phía Tây Bắc, các quy hoạch lập mới theo tuyến và tại những khu vực thuộc vùng đệm sinh thái trước đây. Quy hoạch không gian ngầm và các quy hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật cũng nằm trong nhóm được ưu tiên.
Theo kế hoạch, hệ thống quy hoạch đô thị và nông thôn trên địa bàn Hà Nội gồm 5 loại, gồm quy hoạch đô thị, quy hoạch nông thôn, quy hoạch khu chức năng, quy hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật và quy hoạch không gian ngầm.
Trong đó, quy hoạch đô thị được tổ chức ở 3 cấp độ gồm Quy hoạch tổng thể Thủ đô, quy hoạch phân khu đô thị và quy hoạch chi tiết, quy hoạch tổng mặt bằng, thiết kế đô thị. Quy hoạch nông thôn gồm quy hoạch chung xã và quy hoạch chi tiết. Quy hoạch khu chức năng gồm quy hoạch chung khu chức năng, quy hoạch phân khu khu chức năng và quy hoạch chi tiết khu chức năng.
Việc cụ thể hóa Quy hoạch tổng thể Thủ đô được tổ chức đồng bộ với mô hình cấu trúc phát triển đã xác định. Thành phố cũng nghiên cứu kết hợp quy hoạch xã với quy hoạch phân khu đô thị, quy hoạch phân khu chức năng trong phạm vi ranh giới xã, bảo đảm khớp nối đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, thống nhất với các phường, xã lân cận và phù hợp quy định pháp luật hiện hành.
9 cực phát triển định hình không gian Hà Nội, Sông Hồng là trục xương sống
Tại cực trung tâm, khu vực Nội đô lịch sử và Nội đô lịch sử mở rộng được triển khai qua các đồ án quy hoạch phân khu từ A1-1 đến A1-4, A6, B1 đến B4, tập trung tái cấu trúc theo mô hình nén - xanh, khai thác không gian ngầm, phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD) và bảo tồn di sản.
Khu vực hai bên đường Vành đai 4 được định hướng trở thành dải đô thị mới hiện đại, đồng thời đóng vai trò vùng đệm nhằm giảm tải dân số cho khu vực lõi. Đô thị Thể thao được phát triển thành tổ hợp thể thao tầm cỡ quốc gia, quốc tế kết hợp đô thị sinh thái TOD.
Cực Sông Hồngđược cụ thể hóa qua các đồ án quy hoạch phân khu từ SH-1 đến SH-4, trải dài từ thượng lưu đến hạ lưu, với định hướng trở thành trục xương sống cảnh quan, công viên sinh thái và trung tâm văn hóa - dịch vụ biểu tượng của Thủ đô.
Cực phía Bắc gắn với Cảng hàng không quốc tế Nội Bài, khu thương mại tự do và logistics, cùng các khu công nghiệp, công nghệ cao. Khu vực này được cụ thể hóa bằng chuỗi đồ án quy hoạch phân khu từ E1-1 đến E1-3, E2-1 đến E2-4, E3, E4, XB1 đến XB5, Cụm cảng hàng không Nội Bài và các khu công nghiệp, công nghệ cao.
Cực phía Đông đảm nhận chức năng trung tâm thương mại, logistics và cảng cạn ICD, được cụ thể hóa qua các đồ án quy hoạch phân khu E5-1 (A, B), E5-2, E5-3 và SĐ.
Tại phía Nam, Phú Xuyên được định hướng là đô thị công nghiệp, logistics đa phương thức gắn với sân bay thứ 2 phía Nam. Khu vực này gồm các đồ án quy hoạch phân khu Phú Xuyên (PX-1, PX-2), Ứng Hòa (UH), khu vực phát triển theo tuyến Quốc lộ 1A/Pháp Vân - Cầu Giẽ và Cảng hàng không thứ 2 (QL-1).
Trong khi đó, khu vực Vân Đình - Đại Nghĩa phát triển theo hướng đô thị di sản, văn hóa tâm linh và du lịch sinh thái hai bên sông Đáy, thông qua các đồ án quy hoạch phân khu Vân Đình (VĐ), Đại Nghĩa (ĐN), Hòa Xá (HX) và Phượng Dực (PD).
Cực phía Tây Nam được định hướng phát triển đô thị giáo dục, đào tạo, y tế và nghỉ dưỡng, cụ thể hóa qua đồ án quy hoạch phân khu Xuân Mai (XM) và dải đô thị dọc trục Quốc lộ 6 (CM-1, CM-2).
Cực phía Tây là hạt nhân khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, Khu công nghệ cao Hòa Lạc và Đại học Quốc gia Hà Nội, được triển khai qua các đồ án quy hoạch phân khu Hòa Lạc (HL) và vùng đô thị kết nối Đại lộ Thăng Long (HL-B, HL-N, ĐLTL).
Phía Tây Bắc được định hướng phát triển đô thị văn hóa lịch sử, du lịch nghỉ dưỡng núi Tản - Sông Đà, cụ thể hóa qua các đồ án quy hoạch phân khu Sơn Tây (ST1 đến ST4), Tản Viên Sơn (TV), Tây Đằng (TĐ) và dải đô thị kết nối tuyến Quốc lộ 32/Tây Thăng Long (QL32).
Hà Nội xây dựng mô hình Thủ đô 4D, quản lý quy hoạch bằng dữ liệu
Cùng với việc lập các đồ án quy hoạch, một nội dung đáng chú ý trong kế hoạch là xây dựng mô hình phát triển Thủ đô Hà Nội 4D, nâng cấp hệ thống thông tin quy hoạch và số hóa, chuẩn hóa dữ liệu GIS ở các cấp quy hoạch.
Hệ thống sẽ tích hợp dữ liệu về không gian ngầm, hạ tầng kỹ thuật khung, không gian tầm thấp và tầm cao, gắn với phân kỳ đầu tư cũng như theo dõi, giám sát tiến độ triển khai các dự án ưu tiên.
Hà Nội cũng nghiên cứu lập mới Quy chế quản lý kiến trúc thành phố, đồng thời rà soát, xây dựng các quy chế quản lý kiến trúc tại những khu vực cần kiểm soát, bảo tồn và phát triển.
Việc thực hiện Quy hoạch tổng thể Thủ đô được triển khai theo 10 nhóm ngành, lĩnh vực, gồm bảo vệ môi trường và xử lý úng ngập; trật tự đô thị và ùn tắc giao thông; vệ sinh an toàn thực phẩm; phát triển kinh tế; khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; chuyển đổi số; tái cấu trúc đô thị; nguồn nhân lực; mô hình quản trị Thủ đô và phát triển vùng Thủ đô; xây dựng cấu trúc không gian đô thị đa tầng, đa lớp.
Về kinh tế, thành phố định hướng chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; xây dựng các khu thương mại tự do, khu công nghệ cao, đồng thời phát triển du lịch và công nghiệp văn hóa thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Trong chuyển đổi số, Hà Nội thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện, phát triển đồng bộ hạ tầng số, nền tảng AI dùng chung và bảo đảm an ninh mạng, hướng tới hệ sinh thái số an toàn, tin cậy. Mô hình quản trị Thủ đô được định hướng dựa trên dữ liệu theo thời gian thực, đi cùng phân cấp, phân quyền và tăng vai trò chủ trì, điều phối các vấn đề liên vùng về quy hoạch, hạ tầng và môi trường.
Đối với nguồn nhân lực, thành phố tập trung nâng cao chất lượng nhân lực trong các lĩnh vực công nghệ cao, tài chính và quản trị công, đồng thời thiết lập cơ chế đặc thù để thu hút chuyên gia đầu ngành tham gia với vai trò tổng công trình sư.
Kế hoạch số 331/KH-UBND đặt việc triển khai Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm vào một lộ trình cụ thể, gắn công tác quy hoạch với đầu tư, chuyển đổi số, khoa học công nghệ, nguồn nhân lực và mô hình quản trị, tạo cơ sở để tổ chức thực hiện thống nhất trong từng giai đoạn.