Tín dụng trung và dài hạn tăng 11%, ngân hàng mở rộng cửa cho vay
Trong nửa đầu năm 2026, tín dụng trung và dài hạn tăng 11,1%, cao hơn đáng kể mức tăng 6,9% của tín dụng ngắn hạn. Xu hướng này đã kéo dài 5 quý liên tiếp, cho thấy nhu cầu vốn phục vụ đầu tư và các dự án dài hạn đang gia tăng.
Tín dụng trung, dài hạn tăng nhanh
Báo cáo của S&I Ratings cho thấy, trong nửa đầu năm 2026, dư nợ tín dụng trung và dài hạn tiếp tục tăng nhanh hơn tín dụng ngắn hạn. Cụ thể, tín dụng trung và dài hạn tăng 11,1%, trong khi tín dụng ngắn hạn chỉ tăng 6,9%.

Chênh lệch về tốc độ tăng trưởng giúp các ngân hàng duy trì tỷ trọng cho vay kỳ hạn dài ở mức cao, qua đó phần nào hạn chế áp lực suy giảm biên lãi ròng (NIM) trong bối cảnh chi phí huy động vốn có xu hướng tăng.
Xu hướng này cũng được Chứng khoán Yuanta ghi nhận. Tính đến ngày 22/8, tín dụng toàn hệ thống tăng hơn 9%, trong đó tín dụng trung và dài hạn chiếm khoảng 48,5%.
Số liệu từ báo cáo tài chính quý II/2026 của các ngân hàng cho thấy rõ hơn sự dịch chuyển này. Dư nợ cho vay trung hạn trong nửa đầu năm tăng 11%, đạt hơn 2,19 triệu tỷ đồng, nâng tỷ trọng lên 14,2% tổng dư nợ.
Trong khi đó, dư nợ cho vay dài hạn tăng 11,2%, lên hơn 5,1 triệu tỷ đồng. Tỷ trọng cho vay dài hạn tăng từ 32,4% cuối năm 2025 lên 33,1%.
Tính chung, cho vay trung và dài hạn chiếm 47,3% tổng dư nợ toàn ngành vào cuối quý II, tăng 0,9 điểm phần trăm so với cuối năm 2025.
Ở từng ngân hàng, mức độ tập trung vào tín dụng trung và dài hạn thậm chí còn cao hơn. Tỷ trọng cho vay kỳ hạn này tại nhiều ngân hàng phổ biến ở mức 60-70% tổng dư nợ.
NCB dẫn đầu nhóm khảo sát với tỷ trọng 72,5%, tiếp đến là OCB với 72,1%. Tại VPBank, dù tỷ trọng cho vay trung và dài hạn gần như đi ngang quanh mức 60%, dư nợ cho vay dài hạn lại tăng tới 40,5%, lên gần 334.700 tỷ đồng.
VIB và Techcombank cũng ghi nhận tỷ trọng cho vay trung và dài hạn lần lượt ở mức 59,5% và 59,4%.
Dư địa cho vay dài hạn được mở rộng
Theo giới phân tích, tín dụng trung và dài hạn nhiều khả năng tiếp tục tăng mạnh trong thời gian tới khi Ngân hàng Nhà nước triển khai các cơ chế mới, tạo thêm dư địa cho ngân hàng cung ứng nguồn vốn kỳ hạn dài.
Một trong những thay đổi đáng chú ý là Thông tư 25/2026/TT-NHNN, nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%, áp dụng từ đầu quý III/2026.
Theo bà Vũ Diệu Hà, chuyên viên phân tích Công ty Chứng khoán KB Việt Nam (KBSV), việc nới tỷ lệ này giúp các ngân hàng sử dụng nhiều hơn nguồn vốn ngắn hạn, thường có chi phí thấp hơn, để tài trợ cho các khoản vay trung và dài hạn. Qua đó, ngân hàng có thể giảm áp lực huy động vốn dài hạn hoặc phát hành giấy tờ có giá với chi phí cao hơn, đồng thời hỗ trợ cải thiện NIM.
Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước đang xây dựng dự thảo Thông tư về điều kiện, hồ sơ và thủ tục cấp tín dụng vượt giới hạn đối với các dự án lớn, quan trọng trên địa bàn Thủ đô.
Theo dự thảo, mức cấp tín dụng tối đa đối với một khách hàng có thể lên tới 38% vốn tự có của ngân hàng thương mại; đối với một khách hàng và người có liên quan là 52%.
Các mức này cao hơn đáng kể so với giới hạn áp dụng đối với khách hàng thông thường. Từ đầu năm 2026 đến trước năm 2027, một ngân hàng được cấp tín dụng tối đa 13% vốn tự có đối với một khách hàng và 21% đối với một khách hàng cùng người có liên quan. Các tỷ lệ này sẽ tiếp tục giảm xuống lần lượt 10% và 15% từ năm 2029.
Theo Chứng khoán Yuanta, một yếu tố khác có thể hỗ trợ tín dụng trung và dài hạn là cơ chế tái cấp vốn mà Ngân hàng Nhà nước dự kiến áp dụng cho các tổ chức tín dụng.
Cơ chế này nhằm hỗ trợ thanh khoản, cho vay các chương trình, dự án đã được Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đồng thời hỗ trợ quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu.
Yuanta cho rằng công cụ tái cấp vốn có thể được sử dụng nhiều hơn trong thời gian tới, đặc biệt để hỗ trợ thanh khoản cho các tổ chức tín dụng tham gia tài trợ các dự án quy mô lớn.