TS. Bùi Ngọc Sơn: Không thể xử lý dứt điểm nợ xấu nếu tiền cứ bị hút vào bất động sản
"Hễ nền kinh tế thuận lợi, chính sách tiền tệ được nới lỏng thì dòng tiền lại bằng mọi cách chảy vào bất động sản, đẩy giá lên rất cao. Đến khi lạm phát tăng, lãi suất buộc phải nâng lên thì tiền trở nên khan hiếm, hàng loạt dự án bị đình trệ", ông Sơn phân tích.
Chia sẻ tại Talkshow "Fed giữ lãi suất USD cao, các nền kinh tế khát vốn thế nào? Việt Nam có ngoại lệ?", chuyên gia kinh tế TS. Bùi Ngọc Sơn cho biết, nhìn lại gần một thế kỷ các cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, từ Đại suy thoái năm 1929, khủng hoảng Mỹ Latin, khủng hoảng tài chính châu Á 1997, khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008, khủng hoảng nợ công châu Âu cho đến vụ Evergrande tại Trung Quốc, đều có chung một quy luật.
Đó là khi nền kinh tế sử dụng đòn bẩy quá mức, dòng tiền không còn đủ khả năng quay trở lại để trả nợ, hệ thống tài chính sẽ nhanh chóng rơi vào trạng thái tắc nghẽn.
"Nếu dòng tiền không quay trở lại được thì bắt đầu sinh ra khủng hoảng. Đặc biệt, khi rủi ro đi vào hệ thống ngân hàng thì tác động đến toàn bộ nền kinh tế sẽ diễn ra rất nhanh", ông nhận định.
Theo chuyên gia, trường hợp Evergrande là minh chứng rõ nét. Chính phủ Trung Quốc có thể ngăn doanh nghiệp phá sản ngay lập tức, nhưng đổi lại phải chấp nhận đánh đổi bằng việc giảm tiền lương, cắt giảm việc làm và kéo dài quá trình xử lý nợ trong nhiều năm.

Ba cơn khát vốn của Việt Nam đều có chung một điểm
Nhìn lại lịch sử kinh tế Việt Nam, TS. Bùi Ngọc Sơn cho rằng ba cuộc khát vốn lớn vào các năm 2008, 2011 và 2022 tuy xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau nhưng đều có một "mẫu số chung".
Năm 2008, lạm phát vượt 22%, thanh khoản hệ thống ngân hàng căng thẳng khiến lãi suất huy động thực tế lên tới gần 20%/năm, còn lãi suất cho vay vượt 24%/năm.
Đến năm 2011, bong bóng bất động sản và nợ xấu bùng phát, dòng vốn bị chôn chặt trong các dự án dở dang, buộc Chính phủ phải thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ mạnh mẽ.
Năm 2022, cú sốc niềm tin trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp sau các vụ việc liên quan đến Tân Hoàng Minh và Vạn Thịnh Phát khiến doanh nghiệp đồng loạt quay lại vay ngân hàng, tạo áp lực lớn lên thanh khoản hệ thống.
Theo TS. Bùi Ngọc Sơn, cả ba cuộc khủng hoảng đều có một đặc điểm giống nhau.
"Tất cả những vụ đó đều có liên quan đến thị trường bất động sản. Hễ nền kinh tế thuận lợi, chính sách tiền tệ được nới lỏng thì dòng tiền lại bằng mọi cách chảy vào bất động sản, đẩy giá lên rất cao. Đến khi lạm phát tăng, lãi suất buộc phải nâng lên thì tiền trở nên khan hiếm, hàng loạt dự án bị đình trệ", ông phân tích.
"Không thể xử lý dứt điểm nợ xấu nếu tiền cứ bị hút vào bất động sản"
Theo chuyên gia, sau mỗi cuộc khủng hoảng, Việt Nam đều mất nhiều năm để xử lý nợ xấu, tái cơ cấu ngân hàng và khơi thông thị trường bất động sản. Tuy nhiên, đến nay, những di chứng đó vẫn chưa được giải quyết triệt để.
"Chưa làm sao mà xử lý được. Không thể xử lý được", TS. Bùi Ngọc Sơn nói.
Ông lý giải, các khoản nợ xấu tích tụ từ nhiều giai đoạn khiến ngân hàng phải duy trì mức trích lập dự phòng lớn, làm chi phí vốn cao và kéo mặt bằng lãi suất cho vay khó giảm.
Theo ông, nguyên nhân sâu xa nằm ở việc mỗi khi chính sách tiền tệ được nới lỏng nhằm hỗ trợ tăng trưởng, dòng tiền lại tiếp tục đổ mạnh vào bất động sản thay vì khu vực sản xuất.
"Không thể giải quyết được là vì hễ có tiền và có chính sách kích thích thì tiền lại bằng mọi cách lao vào bất động sản."
Chuyên gia dẫn thực tế nhiều khu đô thị, dự án nhà ở cao cấp vẫn bỏ hoang nhiều năm, trong khi lượng vốn khổng lồ vẫn nằm trong các khoản nợ của hệ thống ngân hàng.
"Không những không giải quyết được mà nợ xấu còn ngày càng nặng hơn", ông nhận định.
Theo TS. Bùi Ngọc Sơn, điểm yếu lớn nhất của hệ thống tài chính Việt Nam hiện nay là quá phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Trong khi tại nhiều nền kinh tế phát triển, doanh nghiệp huy động vốn chủ yếu từ thị trường vốn thông qua phát hành cổ phiếu và trái phiếu thì ở Việt Nam, hơn 80% nhu cầu vốn vẫn đi qua hệ thống ngân hàng.
"Chắc chắn là như vậy. Không thể thoát được. Đấy chính là nhược điểm của hệ thống tài chính của chúng ta. Tất cả đều trông vào ngân hàng", ông nói.
Thậm chí, theo chuyên gia, ngay cả sự phát triển của thị trường chứng khoán hiện nay cũng vẫn phụ thuộc lớn vào dòng vốn tín dụng ngân hàng thay vì hình thành một kênh huy động vốn độc lập.
Tỷ lệ tín dụng/GDP 145-146% đã ở ngưỡng nguy hiểm
TS. Bùi Ngọc Sơn đặc biệt lưu ý đến tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam hiện đã lên khoảng 145-146%.
Theo ông, với các nền kinh tế đang phát triển, mức an toàn thường chỉ dao động khoảng 70-100% GDP, trong khi từ 120-130% đã bắt đầu xuất hiện nhiều rủi ro.
"Chúng ta hiện đã ở mức 145-146%. Điều đó đồng nghĩa nền kinh tế sử dụng đòn bẩy quá lớn, nguy cơ dòng tiền không quay trở lại được là rất cao", ông cảnh báo.
Theo chuyên gia, tỷ lệ tín dụng/GDP cao ở các nước phát triển không hoàn toàn tương đồng với Việt Nam bởi hệ thống tài chính của họ có độ sâu lớn, mọi giao dịch đều đi qua ngân hàng và thị trường vốn hoạt động hiệu quả.
Trong khi đó, với một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, mức tín dụng hiện nay phản ánh áp lực lớn lên hệ thống tài chính và làm gia tăng nguy cơ mất cân đối nếu xảy ra cú sốc thanh khoản.
Trong bối cảnh Việt Nam cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng trên 10% giai đoạn 2026-2030, TS. Bùi Ngọc Sơn cho rằng bài toán không chỉ là tìm thêm nguồn vốn, mà quan trọng hơn là xây dựng một cấu trúc tài chính cân bằng hơn, giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng và phát triển thực chất thị trường vốn.
"Nếu không thay đổi cấu trúc này, nguy cơ lặp lại vòng xoáy khát vốn của các giai đoạn 2008, 2011 và 2022 vẫn còn hiện hữu", ông nhấn mạnh.