TS Bùi Ngọc Sơn: Việt Nam từng trải qua siêu lạm phát 800%, bài học nào cho điều hành kinh tế hiện nay?

Minh Anh • 20/10/2026 - 09:17

Trong bối cảnh sức ép lạm phát gia tăng, TS Bùi Ngọc Sơn cho rằng cần kiểm soát dòng tiền, phân bổ vốn có trọng tâm và buộc cả doanh nghiệp lẫn người dân chuyển sang trạng thái phòng thủ.

Siêu lạm phát không chỉ do in tiền

Tại talkshow “Vì sao nhiều quốc gia để lạm phát tăng ‘điên cuồng’, đồng tiền mất giá thê thảm?”, do VTC News tổ chức, theo chuyên gia kinh tế TS Bùi Ngọc Sơn, nhìn lại giai đoạn lạm phát lên tới 774,7% năm 1986, nguyên nhân không thể chỉ được nhìn nhận từ việc gia tăng lượng tiền trong lưu thông, mà phải đặt trong tổng thể mô hình quản lý nền kinh tế thời kỳ bao cấp.

Theo ông, khi đó, hoạt động sản xuất và phân phối hàng hóa chịu sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước. Hàng hóa làm ra phải qua các khâu định giá, phân phối, trong khi khu vực tư nhân chưa được hoạt động theo cơ chế thị trường đầy đủ. Hệ quả là tình trạng khan hiếm diễn ra trên diện rộng, người dân có tiền nhưng không dễ mua được những thứ mình cần.

“Thời điểm đó lại là một nền kinh tế bao cấp hoàn toàn, không có tư nhân gì cả”, ông nhớ lại.

TS Bùi Ngọc Sơn kể, thời kỳ ấy, người dân thậm chí phải bốc thăm để nhận hàng hóa. Có người được phân một chiếc lốp dù không có nhu cầu sử dụng, nhưng vẫn phải nhận rồi đem bán để lấy tiền chi tiêu.

Tình trạng khan hiếm khiến hàng hóa không chỉ phục vụ nhu cầu tiêu dùng mà còn trở thành phương tiện giữ giá trị trong bối cảnh đồng tiền mất giá. Khi ngân sách tiếp tục thâm hụt và việc in tiền được sử dụng để bù đắp thiếu hụt, sức ép lạm phát càng trở nên nghiêm trọng.

Ông cũng chỉ ra vòng xoáy giữa giá cả và tiền lương. Khi người dân và doanh nghiệp dự đoán giá sẽ tăng sau mỗi đợt điều chỉnh giá, lương, tiền, họ có xu hướng tăng giá trước để phòng ngừa. Kỳ vọng lạm phát vì thế có thể tự củng cố, đẩy giá cả tăng nhanh hơn.

Từ kinh nghiệm này, TS Bùi Ngọc Sơn nhấn mạnh bài học quan trọng là không thể kiểm soát lạm phát chỉ bằng những biện pháp tiền tệ đơn lẻ, nếu các bất cập trong cơ chế phân phối và vận hành thị trường chưa được xử lý.

Việc xóa bỏ cơ chế ngăn sông cấm chợ, từng bước thống nhất cơ chế giá, mở rộng quyền kinh doanh cho các thành phần kinh tế và đưa hàng hóa lưu thông theo tín hiệu thị trường đã góp phần tạo ra thay đổi lớn. Theo ông, đây chính là một trong những ý nghĩa quan trọng của công cuộc Đổi mới năm 1986.

1.jpg
Chuyên gia kinh tế TS Bùi Ngọc Sơn.

Bất động sản tăng giá: Tiền đầu cơ đẩy thị trường đi xa thu nhập

Từ câu chuyện lạm phát trong quá khứ, TS Bùi Ngọc Sơn cho rằng một vấn đề đáng quan tâm hiện nay là sự gia tăng của giá bất động sản tại nhiều đô thị lớn, trong khi thu nhập của phần đông người dân không tăng tương ứng.

Theo ông, khi bất động sản được coi là nơi trú ẩn an toàn, kỳ vọng giá tiếp tục tăng có thể kích thích hoạt động đầu cơ. Giá tăng lại càng củng cố niềm tin rằng mua bất động sản sẽ có lãi, khiến dòng tiền tiếp tục đổ vào thị trường.

Ông cho rằng những bất cập trong quản lý thị trường, đặc biệt là chính sách thuế đối với tài sản và việc sử dụng đòn bẩy tài chính, có thể góp phần duy trì tình trạng này.

Để hạn chế đầu cơ, TS Bùi Ngọc Sơn đề xuất nghiên cứu thuế đối với bất động sản sở hữu, sử dụng các công cụ tín dụng để kiểm soát dòng vốn mang tính đầu cơ và xem xét lại cơ chế bán nhà hình thành trong tương lai. Ông cũng nhấn mạnh cần phát triển nhà ở cho thuê, nhà ở xã hội và nhà giá phù hợp với thu nhập.

“Không thể có chuyện các ông cứ sở hữu rồi để cho cỏ mọc được”, ông nói khi đề cập đến tình trạng nắm giữ bất động sản nhưng không đưa vào sử dụng hiệu quả.

Theo chuyên gia, phát triển đô thị cũng không thể chỉ tập trung xây dựng nhà ở mà thiếu hệ thống dịch vụ, trường học, bệnh viện và các tiện ích thiết yếu. Nếu hạ tầng xã hội không theo kịp, dòng tiền có thể tiếp tục tập trung vào những phân khúc nhà ở cao cấp, trong khi nhu cầu thực của số đông chưa được đáp ứng.

Đáng chú ý, bất động sản là lĩnh vực sử dụng đòn bẩy tài chính lớn nên đặc biệt nhạy cảm với biến động lãi suất. Khi lạm phát gây sức ép tăng lãi suất, những nhà đầu tư vay nợ nhiều sẽ chịu tác động nặng nề nhất.

Nếu chi phí vốn tăng vượt khả năng chịu đựng, họ có thể buộc phải bán tài sản để trả nợ, thậm chí đối mặt nguy cơ thua lỗ lớn. Ngược lại, những người mua nhà phục vụ nhu cầu ở thực hoặc thuê nhà thường ít chịu tác động trực tiếp từ áp lực bán giải chấp.

Không thể vừa giữ lãi suất thấp bằng mọi giá, vừa kiểm soát lạm phát

Đối với điều hành chính sách tiền tệ, TS Bùi Ngọc Sơn cho rằng cơ quan quản lý phải đối diện với bài toán khó: kiểm soát lạm phát và ổn định giá trị đồng tiền, đồng thời duy trì điều kiện vốn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Theo ông, nếu sức ép lạm phát đòi hỏi mặt bằng lãi suất phải tăng, nền kinh tế cần chấp nhận việc hạn chế những hoạt động tăng trưởng quá nóng. Tuy nhiên, điều đó không đồng nghĩa với việc siết vốn đồng loạt, bởi các khu vực sản xuất thiết yếu vẫn cần nguồn lực để duy trì hoạt động.

TS Bùi Ngọc Sơn đề xuất cần có cơ chế phân luồng tín dụng rõ ràng, ưu tiên doanh nghiệp nhỏ và vừa, đồng thời tập trung nguồn lực cho những công trình thực sự quan trọng. Ngược lại, các dự án chưa cấp thiết cần được cân nhắc kỹ, tránh dàn trải nguồn lực trong bối cảnh tài chính không còn dư dả.

Theo ông, điều hành kinh tế hiện nay không thể chỉ dựa vào việc tăng hoặc giảm lãi suất như một công cụ duy nhất. Cơ quan quản lý cần xác định rõ dòng vốn được đưa vào đâu, phục vụ mục tiêu nào và giám sát hiệu quả sử dụng vốn.

Về phía người dân, trước tình trạng giá vàng và bất động sản ở mức cao, chuyên gia cho rằng không nên dồn toàn bộ tiền tích lũy vào một loại tài sản. Việc lựa chọn còn phụ thuộc vào nhu cầu sử dụng tiền, quỹ dự phòng, khả năng chấp nhận rủi ro và thời hạn đầu tư.

Đề cập đến diễn biến thị trường vàng, TS Bùi Ngọc Sơn cho rằng sự ổn định tương đối của thị trường không nên được quy hoàn toàn cho hoạt động can thiệp của Ngân hàng Nhà nước. Theo ông, công tác quản lý hành chính chặt chẽ hơn và các biện pháp ngăn chặn hành vi thao túng cũng có thể góp phần hạn chế tình trạng đầu cơ, tạo cung cầu bất thường.

Trong khi đó, nếu lãi suất tại Mỹ và các nền kinh tế lớn tiếp tục tăng, Việt Nam có thể chịu sức ép kép từ tỷ giá, chi phí vốn quốc tế và triển vọng xuất khẩu. Khi chi phí vay vốn ở nước ngoài tăng, nhà đầu tư có thể thận trọng hơn với những thị trường mà họ đánh giá triển vọng tăng trưởng còn nhiều bất định.

Theo TS Bùi Ngọc Sơn, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vẫn có những yếu tố hỗ trợ từ môi trường chính trị ổn định và lợi thế lao động của Việt Nam. Tuy nhiên, để duy trì sức hấp dẫn với nhà đầu tư, điều quan trọng là kiểm soát lạm phát và củng cố niềm tin vào sự ổn định của nền kinh tế.

Bài học từ thời kỳ siêu lạm phát, theo đó, không chỉ nằm ở việc tránh lạm dụng phát hành tiền, mà còn ở yêu cầu duy trì kỷ luật tài chính, bảo đảm lưu thông hàng hóa và phân bổ nguồn lực hiệu quả. Trong bối cảnh mới, điều hành chính sách cần tránh để dòng vốn chảy quá mức vào đầu cơ, đồng thời bảo vệ năng lực sản xuất và sức mua của nền kinh tế.

Theo Kiến thức Đầu tư | 2026-10-19 21:20
https://dautu.kinhtechungkhoan.vn/ts-bui-ngoc-son-viet-nam-tung-trai-qua-sieu-lam-phat-800-bai-hoc-nao-cho-dieu-hanh-kinh-te-hien-nay-1471291.html
Đừng bỏ lỡ
    Đặc sắc
    Nổi bật Người quan sát
    Đọc tiếp
    TS Bùi Ngọc Sơn: Việt Nam từng trải qua siêu lạm phát 800%, bài học nào cho điều hành kinh tế hiện nay?
    POWERED BY ONECMS & INTECH