TS. Nguyễn Minh Phong: Giá đất và 1 triệu thanh niên '3 không' là những điểm nghẽn của nền kinh tế
TS. Nguyễn Minh Phong cho rằng giá đất tăng cao, vốn phân bổ kém hiệu quả và khoảng 1 triệu thanh niên “3 không” đang cho thấy những nguồn lực chưa được khai thác hiệu quả, cản trở dư địa tăng trưởng của nền kinh tế.

Chia sẻ tại diễn đàn “Khơi thông nguồn lực – Mở dư địa cho tăng trưởng” do VOV tổ chức, TS. Nguyễn Minh Phong, chuyên gia kinh tế, Ủy viên Hội đồng Tư vấn Kinh tế thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cho rằng bài toán tăng trưởng của Việt Nam hiện nay không chỉ nằm ở việc huy động thêm vốn hay mở rộng đầu tư, mà còn ở khả năng giải phóng những nguồn lực đang bị ách tắc và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực hiện có.
Theo ông, Việt Nam cần đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ: khơi thông các nguồn lực đang bị tắc nghẽn và sử dụng hiệu quả hơn những nguồn lực hiện có để tạo ra động lực tăng trưởng mới.
Sáu nhóm nguồn lực cần được khơi thông
TS. Nguyễn Minh Phong chỉ ra sáu nhóm nguồn lực có ý nghĩa quan trọng đối với dư địa tăng trưởng, gồm thể chế; đất đai và tài sản công; vốn và vốn xã hội; hạ tầng và liên kết không gian kinh tế; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; nguồn lực con người, khu vực kinh tế tư nhân và niềm tin xã hội.
Trong đó, thể chế được ông xác định là nguồn lực có tính quyết định, bởi đây là nền tảng để huy động, phân bổ và phối hợp các nguồn lực khác. Việc hoàn thiện pháp luật, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và gắn quyền hạn với trách nhiệm giải trình sẽ góp phần tạo thêm không gian phát triển cho nền kinh tế.
Tuy nhiên, theo ông Phong, điểm nghẽn không chỉ nằm ở việc ban hành chính sách mà còn ở khâu tổ chức thực hiện. Có những trường hợp luật đã được thông qua nhưng việc cụ thể hóa bằng văn bản hướng dẫn hoặc triển khai ở cấp dưới còn chậm, khiến chính sách chưa phát huy đầy đủ hiệu quả trong thực tiễn.
Ông cho rằng tình trạng thực thi thiếu chủ động, tâm lý né tránh trách nhiệm và cơ chế chưa phân biệt rõ giữa sai phạm cố ý với những sai sót trong quá trình đổi mới, thử nghiệm cũng có thể làm giảm động lực hành động của đội ngũ thực thi.
“Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không hẳn là thiếu nguồn lực”, mà nằm ở chỗ cơ chế chưa đủ thông suốt để chuyển hóa nguồn lực thành năng lực sản xuất thực tế, theo phân tích của ông.
Giá đất tăng cao có thể tạo thêm chi phí cho nền kinh tế
Một trong những vấn đề được TS. Nguyễn Minh Phong nhấn mạnh là hiệu quả khai thác đất đai và tài sản công. Theo ông, tình trạng đất bỏ hoang, tài sản công sử dụng kém hiệu quả, dự án chậm triển khai và dữ liệu đất đai chưa được xây dựng đồng bộ đang gây lãng phí nguồn lực.
Đáng chú ý, ông cảnh báo rủi ro khi hoạt động kinh tế quá tập trung vào khai thác đất đai, thậm chí dựa vào việc tăng giá đất để tạo ra tăng trưởng.
Theo chuyên gia, quỹ đất có giới hạn, trong khi giá đất tăng có thể kéo theo nhiều chi phí cơ hội khác, làm gia tăng chi phí của doanh nghiệp và hạn chế khả năng phân bổ nguồn lực sang các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh.
“Giá đất đội lên” có thể khiến nền kinh tế bị chi phối bởi chi phí đất đai, trong khi nguồn lực không nhất thiết được phân bổ đến những nơi tạo ra hiệu quả kinh tế cao nhất.
Ông cũng lưu ý nguy cơ đất đai bị phân bổ theo các mối quan hệ hoặc lợi ích thay vì tín hiệu thị trường. Khi đó, dòng vốn và các nguồn lực xã hội có thể bị lệch hướng, làm suy giảm hiệu quả đầu tư.
Theo ông Phong, những vướng mắc trong quy hoạch, định giá đất, giải phóng mặt bằng và sự thiếu đồng bộ giữa các quy định đang góp phần làm chậm tiến độ dự án. Có những dự án được đưa vào danh mục nhưng chủ đầu tư chưa đủ điều kiện hoặc năng lực triển khai, khiến quá trình tháo gỡ sau đó không dễ đạt kết quả.
Vì vậy, xử lý điểm nghẽn đất đai không đơn thuần là thúc đẩy các dự án đang đình trệ, mà còn phải xem xét năng lực thực hiện, tính minh bạch trong phân bổ đất và hiệu quả sử dụng tài sản công.

1 triệu thanh niên “3 không”: Nguồn lực con người chưa được khai thác
Bên cạnh đất đai và vốn, TS. Nguyễn Minh Phong đặc biệt lưu ý đến chất lượng nguồn nhân lực. Ông cho rằng nền kinh tế đang đối mặt với những thách thức về già hóa dân số, chất lượng đào tạo và yêu cầu kỹ năng ngày càng cao trong bối cảnh phát triển khoa học, công nghệ và các phương thức sản xuất mới.
Đáng chú ý, ông dẫn thông tin về khoảng 1 triệu thanh niên thuộc nhóm “3 không”: không làm việc, không học tập và không tham gia hoạt động khác.
Theo ông, đây là một lực lượng đáng kể, có ý nghĩa đối với phát triển kinh tế nhưng chưa được khai thác hiệu quả. Trong bối cảnh Việt Nam cần nâng cao năng suất và chuyển đổi mô hình tăng trưởng, việc để một bộ phận lớn thanh niên đứng ngoài thị trường lao động, giáo dục và các hoạt động xã hội đặt ra yêu cầu phải nhìn nhận lại cách phát triển và sử dụng nguồn nhân lực.
Vấn đề không chỉ là tạo thêm việc làm, mà còn là nâng cao khả năng tiếp cận đào tạo, phát triển kỹ năng phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp và giúp người trẻ tham gia vào các hoạt động tạo ra giá trị cho nền kinh tế.
Cùng với nguồn nhân lực, ông Phong cho rằng khu vực kinh tế tư nhân cũng cần được tạo điều kiện phát triển mạnh hơn. Khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn là một khâu cần được cải thiện.
Ông chỉ ra nghịch lý vốn tăng nhưng hiệu quả chưa tăng tương xứng; trong khi đó, dòng vốn tập trung vào một số lĩnh vực, trong đó có bất động sản, có thể khiến các khu vực sản xuất, kinh doanh khác khó tiếp cận nguồn lực hơn.
Theo ông, phân bổ vốn cần dựa nhiều hơn vào hiệu quả kinh tế – xã hội, đồng thời phát triển thị trường vốn để doanh nghiệp có thêm kênh huy động nguồn lực thay vì phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng.
Khơi thông nguồn lực phải đi cùng trách nhiệm thực thi
Lý giải nguyên nhân khiến nhiều nguồn lực chưa được khai thác hiệu quả, TS. Nguyễn Minh Phong cho rằng có ít nhất năm nhóm vấn đề: thể chế và hệ thống pháp luật chưa đồng bộ; tổ chức thực thi chính sách chưa đáp ứng yêu cầu; cơ chế phân bổ nguồn lực chưa dựa đầy đủ vào hiệu quả; thị trường vốn và môi trường kinh doanh chưa tạo thuận lợi như kỳ vọng cho khu vực tư nhân; và chất lượng nguồn nhân lực còn nhiều bất cập.
Các điểm nghẽn này không tồn tại riêng lẻ mà có thể liên kết, khuếch đại lẫn nhau. Thể chế chưa thông suốt làm chậm triển khai dự án; dự án đình trệ khiến nguồn lực bị giữ lại; trong khi doanh nghiệp thiếu vốn và người lao động chưa được trang bị kỹ năng phù hợp lại làm giảm khả năng chuyển hóa nguồn lực thành năng lực sản xuất.
Vì vậy, theo ông, bên cạnh việc hoàn thiện luật pháp, cần nâng cao chất lượng giám sát và trách nhiệm của cơ quan thực thi. Giám sát không nên chỉ dựa trên báo cáo mà phải gắn với thực tiễn, lắng nghe ý kiến của người dân và doanh nghiệp, đồng thời theo dõi việc thực hiện các kết luận sau giám sát.
Đối với phân cấp, phân quyền, ông nhấn mạnh việc giao quyền phải đi cùng nguồn lực, năng lực cán bộ và cơ chế giải trình tương xứng. Nếu địa phương được trao quyền nhưng thiếu điều kiện thực hiện hoặc thiếu cơ chế giám sát phù hợp, hiệu quả của chính sách có thể không đạt như kỳ vọng.
Về định hướng dài hạn, TS. Nguyễn Minh Phong cho rằng cơ chế phát triển cần kết hợp hài hòa vai trò của Nhà nước, thị trường và xã hội; bảo đảm tính đồng bộ của chính sách, củng cố niềm tin của thị trường và nhà đầu tư, đồng thời ưu tiên lợi ích quốc gia và mục tiêu phát triển bền vững.
Bài toán tăng trưởng, theo đó, không chỉ là huy động thêm bao nhiêu vốn, khai thác thêm bao nhiêu đất hay xây dựng thêm bao nhiêu dự án. Quan trọng hơn là làm thế nào để nguồn lực được đưa đến đúng nơi, sử dụng đúng mục tiêu và tạo ra giá trị thực chất cho nền kinh tế.