Từ năm 2026, khoản tiền lương nào sẽ được miễn thuế TNCN? Cơ quan thuế lên tiếng làm rõ
Sau khi Nghị định 253/2026/NĐ-CP có hiệu lực, cơ quan thuế đã làm rõ những khoản tiền lương được miễn thuế TNCN và các trường hợp vẫn phải nộp thuế.

Sau khi Nghị định 253/2026/NĐ-CP có hiệu lực, nhiều người lao động băn khoăn về phạm vi miễn thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ và khoản tiền trả cho những ngày không nghỉ phép.
Phản ánh tới cơ quan thuế, bà L.K.D. (Đà Nẵng) cho biết Điều 26 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ và khoản tiền trả cho những ngày không nghỉ phép được miễn thuế TNCN. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 26 lại quy định việc miễn thuế đối với tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép chỉ áp dụng cho trường hợp mất việc, thôi việc theo khoản 3 Điều 113 Bộ luật Lao động và quy định của Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức.
Từ đó, bà đề nghị cơ quan thuế làm rõ người lao động đang làm việc tại doanh nghiệp có được miễn thuế toàn bộ đối với các khoản thu nhập này hay không. Đồng thời, bà cũng băn khoăn khoản 3 Điều 26 quy định phần tiền lương, tiền công trả vượt mức quy định của pháp luật phải tính vào thu nhập chịu thuế, vậy mức được miễn thuế cụ thể là bao nhiêu.
Trả lời vấn đề này, Thuế TP Đà Nẵng cho biết, căn cứ Nghị định 253/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân, nghị định có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Riêng các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú được áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026.
Theo Điều 26 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ được miễn thuế TNCN nếu đáp ứng quy định của pháp luật lao động về điều kiện và thời gian làm việc. Tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép cũng được miễn thuế nếu đáp ứng quy định về điều kiện và mức chi trả theo khoản 3 Điều 113 Bộ luật Lao động và các quy định của Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức.
Nghị định cũng quy định, trường hợp tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ hoặc tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép vượt mức quy định của pháp luật thì phần vượt mức sẽ được tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân.
Để hướng dẫn việc áp dụng, Thuế TP Đà Nẵng viện dẫn Bộ luật Lao động năm 2019. Theo Điều 98, người lao động làm thêm giờ được trả lương ít nhất bằng 150% vào ngày làm việc bình thường, 200% vào ngày nghỉ hằng tuần và 300% vào ngày nghỉ lễ, Tết hoặc ngày nghỉ có hưởng lương, chưa kể tiền lương của ngày nghỉ đối với người hưởng lương theo ngày.
Đối với người lao động làm việc vào ban đêm, mức trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả của ngày làm việc bình thường. Trường hợp làm thêm giờ vào ban đêm, ngoài các khoản trên, người lao động còn được trả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày của ngày làm việc bình thường, ngày nghỉ hằng tuần hoặc ngày nghỉ lễ, Tết.
Bộ luật Lao động cũng quy định giờ làm việc ban đêm được tính từ 22 giờ đến 6 giờ sáng hôm sau. Đồng thời, khoản 3 Điều 113 quy định trường hợp người lao động thôi việc hoặc bị mất việc mà chưa nghỉ hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm thì được người sử dụng lao động thanh toán tiền lương cho những ngày chưa nghỉ.
Bên cạnh đó, cơ quan thuế cũng viện dẫn các quy định tại Điều 55, Điều 56 và Điều 67 Nghị định 145/2020/NĐ-CP về tiền lương làm thêm giờ, tiền lương làm việc ban đêm và tiền lương ngày nghỉ hằng năm.
Trên cơ sở các quy định nêu trên, Thuế TP Đà Nẵng cho biết, kể từ kỳ tính thuế năm 2026, đối với tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, nếu doanh nghiệp bố trí người lao động làm việc từ 22 giờ đến 6 giờ sáng hôm sau tại nơi làm việc và đáp ứng đúng quy định của pháp luật lao động về điều kiện, thời gian làm việc thì khoản tiền lương, tiền công trả cho thời gian này được miễn thuế TNCN. Trường hợp doanh nghiệp trả cao hơn mức quy định thì phần vượt mức phải tính vào thu nhập chịu thuế của người lao động.
Đối với tiền lương, tiền công làm thêm giờ, nếu người lao động làm thêm đúng quy định của pháp luật về điều kiện và thời gian làm việc thì khoản tiền lương, tiền công nhận được cho thời gian làm thêm được miễn thuế TNCN. Phần được trả cao hơn mức quy định của pháp luật sẽ phải tính vào thu nhập chịu thuế.
Riêng tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép, chỉ những trường hợp thuộc đối tượng quy định tại khoản 3 Điều 113 Bộ luật Lao động mới được miễn thuế TNCN đối với khoản tiền lương, tiền công nhận được cho những ngày chưa nghỉ hoặc chưa nghỉ hết phép. Nếu doanh nghiệp chi trả vượt mức quy định thì phần vượt mức cũng phải tính vào thu nhập chịu thuế của người lao động.
Theo Thuế TP Đà Nẵng, mức tiền lương, tiền công được miễn thuế trong các trường hợp nêu trên được xác định theo quy định của Bộ luật Lao động và các Điều 55, 56, 67 Nghị định 145/2020/NĐ-CP.