Vị Thượng tướng xuất sắc là sư đoàn trưởng chưa từng thua trận nào: Lấy vợ là Anh hùng, được Bác Hồ tặng quà cưới, đám cưới có Phó Thủ tướng Chính phủ làm chủ hôn
Hơn 7 thập kỷ kể từ ngày gia nhập quân đội, cuộc đời ông gắn liền với những chặng đường quan trọng của cách mạng và Quân đội nhân dân Việt Nam.
Thượng tướng Nguyễn Chơn sinh năm 1927 tại xã Hòa Minh, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng cũ (nay là phường Hòa Khánh, TP. Đà Nẵng). Ông là nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI, khóa VII, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại biểu Quốc hội khóa VIII và được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Gần trọn cuộc đời gắn bó với quân đội, Thượng tướng Nguyễn Chơn trưởng thành từ thực tiễn chiến đấu trên những chiến trường ác liệt của Khu 5, Trị - Thiên, Tây Nguyên và Hạ Lào. Từ một cán bộ cấp phân đội, ông lần lượt đảm nhiệm nhiều cương vị chỉ huy, trực tiếp tham gia và chỉ huy nhiều trận đánh quan trọng trong 2 cuộc kháng chiến, trước khi tiếp tục giữ những trọng trách trong Quân đội nhân dân Việt Nam sau ngày đất nước thống nhất.

Trong đánh giá của nhiều tướng lĩnh và cán bộ từng công tác cùng thời, Nguyễn Chơn là một trong những chỉ huy có năng lực thực tiễn nổi bật. Thượng tướng, Giáo sư Hoàng Minh Thảo từng dành sự đánh giá cao đối với tài thao lược của ông.
Ông cũng được nhiều cán bộ cùng thời cho là một nhà chỉ huy quân sự xuất sắc, là sư đoàn trưởng chưa từng thua trận nào, một vị tướng bậc thầy về lối đánh xóa sổ hoàn toàn đơn vị địch. Đặc biệt, trong giới quân sự Việt Nam thường lưu truyền câu “Nhất Tấn, nhì An, tam Đan, tứ Chơn” - tương ứng Đại tướng Lê Trọng Tấn, Thượng tướng Nguyễn Hữu An, Thiếu tướng Hoàng Đan và Thượng tướng Nguyễn Chơn.
Từ người lính chiến trường đến vị chỉ huy tài ba
Thượng tướng Nguyễn Chơn tham gia quân đội năm 1946. 3 năm sau, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, ông chủ yếu hoạt động tại chiến trường Khu 5 và Trị - Thiên.
Ngay từ những năm đầu cầm quân, Nguyễn Chơn đã trực tiếp tham gia nhiều trận đánh. Ông nhiều lần xông vào trận địa, chỉ huy bộ đội đột kích, tiêu diệt sinh lực đối phương. Năm 1947, khi đang công tác tại Đội cảm tử quân thuộc Tiểu đoàn 14, Trung đoàn 803, Liên khu 5, Nguyễn Chơn cùng đồng đội tham gia trận đánh đồn Thu Bồn. Trận đánh đã tiêu diệt 1 đại đội lính Âu - Phi của quân Pháp.
Sau Hiệp định Geneva năm 1954, Nguyễn Chơn tập kết ra miền Bắc. Ông được học tập, rèn luyện tại Trường Sĩ quan Lục quân. Tháng 1/1959, ông cùng 29 cán bộ được điều trở lại chiến trường miền Nam. Về Khu 5, Nguyễn Chơn cùng các cán bộ chủ chốt được giao nhiệm vụ xây dựng, củng cố lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Nam cũ.
Năm 1965, Trung đoàn 1, Sư đoàn 2 cơ động vào Quảng Ngãi. Từ ngày 29 đến 31/5, đơn vị liên tiếp tiến công, tiêu diệt 4 tiểu đoàn quân đối phương, giải phóng một vùng rộng lớn ở phía tây Sơn Tịnh.
Nguyễn Chơn trực tiếp tham gia trận Ba Gia. Khi ấy, ông là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 90. Trận đánh trở thành một trong những dấu mốc quan trọng trên chiến trường Khu 5 và sau đó Trung đoàn 1 được mang tên Trung đoàn Ba Gia.

Trong kháng chiến chống Mỹ, Nguyễn Chơn lần lượt đảm nhiệm các cương vị từ cán bộ tiểu đoàn đến Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1, Sư đoàn 2. Trong Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, ông trực tiếp chỉ huy Trung đoàn tiến công quân đối phương tại thành phố Đà Nẵng. Cuối năm 1970, Nguyễn Chơn được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 2.
Đầu năm 1971, Sư đoàn 2 do Nguyễn Chơn chỉ huy tham gia Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào. Đơn vị khi đó chưa đủ biên chế nhưng được giao nhiệm vụ chiến đấu trên 1 hướng quan trọng của chiến dịch.
Trong chiến dịch, Sư đoàn 2 được giao nhiệm vụ tiêu diệt các đơn vị thuộc Sư đoàn 1 của quân đội Việt Nam Cộng hòa tại các điểm cao 723, 660 và 462. Cách tổ chức lực lượng và sử dụng các mũi tiến công của Sư đoàn 2 đã góp phần tạo nên thắng lợi trên chiến trường Đường 9 - Nam Lào.
Sau chiến dịch, Sư đoàn 2 tiếp tục được giao nhiệm vụ tiến sang giải phóng cao nguyên Bô-lô-ven của Lào.
Năm 1972, Nguyễn Chơn chỉ huy Sư đoàn 2 phối hợp với Bộ Tư lệnh Tây Nguyên tham gia Chiến dịch Bắc Tây Nguyên. Tại Đắc Tô - Tân Cảnh, ông tổ chức lực lượng tiến công một cụm cứ điểm quan trọng của đối phương. Theo tư liệu, kế hoạch tiến công dự kiến kéo dài 7 ngày được rút xuống còn 24 giờ.
Đến cuộc Tổng tiến công năm 1975, Sư đoàn 2 dưới sự chỉ huy của Nguyễn Chơn tiến công giải phóng thị xã Tam Kỳ, sau đó phối hợp với lực lượng vũ trang Quân khu 5 tiến vào giải phóng TP. Đà Nẵng. Đây là một trong những chặng đường chiến đấu cuối cùng của ông trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Sau ngày đất nước thống nhất, Nguyễn Chơn tiếp tục đảm nhiệm nhiều trọng trách trong quân đội. Từ năm 1979, ông giữ chức Tư lệnh Quân đoàn 2, sau đó là Tư lệnh Quân khu 5 và Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Cuối năm 1993, ông được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.
Trong quá trình công tác, ông lần lượt được phong quân hàm Thiếu tướng năm 1979, Trung tướng năm 1984 và Thượng tướng năm 1988.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng tháng 12/1986 và Đại hội lần thứ VII tháng 6/1991, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông cũng là Đại biểu Quốc hội khóa VIII, nhiệm kỳ 1987 - 1992.
Tháng 1/1999, Thượng tướng Nguyễn Chơn được Đảng, Nhà nước cho nghỉ hưu.
Mối lương duyên đẹp với nữ Anh hùng Trần Thị Lý
Nhắc đến cuộc đời Thượng tướng Nguyễn Chơn, bên cạnh những năm tháng chiến đấu và công tác, còn có một câu chuyện đặc biệt về cuộc hôn nhân của ông với nữ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (LLVTND) Trần Thị Lý.
2 người gặp nhau tại Hà Nội sau cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội thống nhất cả nước năm 1976. Khi đó, Anh hùng LLVTND Nguyễn Chơn là đại biểu Quốc hội và được ra Hà Nội học văn hóa, chính trị tại Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc (nay là Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh).
Tại đây, ông gặp nữ Anh hùng LLVTND Trần Thị Lý, khi đó cũng là đại biểu Quốc hội và cán bộ chính trị Đoàn 871. Cùng quê miền Trung, 2 người dần nảy sinh tình cảm.
Sau một thời gian tìm hiểu và nhận được sự quan tâm, vun đắp của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và quân đội, giữa năm 1977, 2 người quyết định về chung một nhà. Đám cưới của 2 vị Anh hùng diễn ra trong không khí ấm áp. Chủ hôn là đồng chí Võ Chí Công, khi đó là Phó Thủ tướng Chính phủ.
Một món quà đặc biệt được trao cho cô dâu, chú rể trong ngày cưới là 2 chiếc đồng hồ Poljot cùng vài mét vải của Bác Hồ, do đồng chí Vũ Kỳ - thư ký của Bác mang đến tặng. Trước đó, trong 1 lần gặp nữ Anh hùng Trần Thị Lý, Bác Hồ từng căn dặn: “Lúc nào cháu xây dựng gia đình, báo cho Bác biết để Bác đến chúc mừng”.
Cuộc hôn nhân của Thượng tướng Nguyễn Chơn và nữ Anh hùng Trần Thị Lý có 2 người con gái là Hồng Dung và Thanh Bình. Tuy nhiên, năm 1998, bà Trần Thị Lý qua đời, để lại khoảng trống lớn trong cuộc đời ông. Những năm sau này, khi xem lại những thước phim ghi lại những khoảnh khắc gia đình, ông vẫn xúc động khi nhớ về người vợ đã cùng mình đi qua những năm tháng đặc biệt của cuộc đời.

Ngày 30/12/2015, Thượng tướng Nguyễn Chơn từ trần tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, hưởng thọ 89 tuổi.
Hơn 7 thập kỷ kể từ ngày gia nhập quân đội, cuộc đời Thượng tướng Nguyễn Chơn gắn liền với những chặng đường quan trọng của cách mạng và Quân đội nhân dân Việt Nam.
Ông đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhất; Huân chương Chiến thắng hạng Nhì; Huân chương Kháng chiến hạng Nhất; Huân chương Quân công hạng Nhất, Nhì, Ba; Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba; Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba; Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Nhất, Nhì; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba; Huy chương Quân kỳ Quyết thắng cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.
Bài viết sử dụng thông tin tham khảo từ các nguồn:
- Thượng tướng Nguyễn Chơn - Một chỉ huy quân sự xuất sắc của Quân đội ta - Báo Quân đội Nhân dân
- Thượng tướng Nguyễn Chơn - Con chim ưng trên sóng duyên hải miền Trung - Báo Quân đội Nhân dân
- Lời hứa Nguyễn Chơn - Báo Đà Nẵng