Bảo vệ sức khỏe cộng đồng: Công cụ quản lý cần đi đúng vào mục tiêu
Tại phiên thảo luận về dự thảo Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá (sửa đổi), các vấn đề được thảo luận đã đặt ra câu hỏi về cách lựa chọn công cụ quản lý vừa bảo đảm mục tiêu sức khỏe, tập trung đúng vào các hành vi cần kiểm soát, vừa hài hòa với các yếu tố kinh tế - xã hội.
Tại phiên thảo luận ngày 21/10 trong Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh không thể chỉ nhìn vào lợi ích kinh tế hay số thu ngân sách mà phải đặt chính sách trong tổng thể lợi ích kinh tế - xã hội, đặc biệt là yêu cầu bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Quan điểm này đặt ra một tiêu chí cho quá trình hoàn thiện luật: quy định cần được đánh giá bằng hiệu quả thực tế đối với mục tiêu sức khỏe.

Trong bối cảnh đó, đề xuất bãi bỏ giấy phép phân phối, bán buôn và bán lẻ thuốc lá cần được xem xét từ chính tiêu chí này. Câu hỏi quan trọng là quản lý bằng công cụ nào để vừa duy trì kiểm soát chặt chẽ, vừa tập trung nguồn lực vào những hành vi ảnh hưởng đến mục tiêu phòng, chống tác hại của thuốc lá.
Giấy phép không phải công cụ duy nhất để đạt mục tiêu sức khỏe
ĐBQH Phạm Ngọc Lâm, Đoàn Gia Lai, đồng tình với yêu cầu tiếp tục quản lý chặt hoạt động kinh doanh thuốc lá, vốn là ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Tuy nhiên, theo đại biểu, việc một ngành nghề thuộc diện đầu tư kinh doanh có điều kiện không đồng nghĩa tất cả các khâu trong chuỗi sản xuất, lưu thông đều phải được quản lý bằng giấy phép. Dẫn khoản 1 và khoản 5 Điều 7 Luật Đầu tư năm 2025, trong đó cho phép phân loại, lựa chọn phương thức quản lý đối với ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Các công cụ quản lý có thể bao gồm giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ, văn bản xác nhận hoặc chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền; đồng thời có cả những yêu cầu mà tổ chức, cá nhân phải đáp ứng mà không cần xác nhận bằng văn bản.
Đối với thuốc lá, mục tiêu hạn chế khả năng tiếp cận và giảm nhu cầu sử dụng được thực hiện bằng nhiều nhóm giải pháp. Nguồn cung từ khâu sản xuất, nhập khẩu đã được điều chỉnh tại Điều 21 và Điều 22 của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá; bên cạnh đó còn có chính sách thuế, quy định về địa điểm bán, đối tượng mua và các hành vi bán hàng.
Theo phân tích của ĐBQH Phạm Ngọc Lâm, giấy phép phân phối, bán buôn, bán lẻ không phải công cụ trực tiếp hoặc duy nhất để hạn chế khả năng tiếp cận hay giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá. Thủ tục cấp phép ở khâu lưu thông chủ yếu dựa trên việc xem xét hồ sơ, giấy tờ, trong khi không trực tiếp quyết định số lượng thuốc lá được đưa ra thị trường hay mức độ tiếp xúc của người tiêu dùng với sản phẩm.
Ngược lại, kiểm tra việc bán thuốc lá cho người chưa đủ 18 tuổi, bán tại địa điểm bị cấm, kinh doanh hàng giả, hàng nhập lậu hay không tuân thủ điều kiện kinh doanh lại đi trực tiếp vào những hành vi pháp luật cần kiểm soát. Đây cũng là cơ sở để đại biểu đề nghị cân nhắc bãi bỏ giấy phép phân phối, bán buôn, bán lẻ trong dự thảo Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát và hậu kiểm.
Việc bãi bỏ giấy phép không đồng nghĩa giảm nhẹ yêu cầu quản lý. Thương nhân vẫn phải tuân thủ đầy đủ các điều kiện, quyền và nghĩa vụ theo quy định; phương thức kiểm soát được chuyển từ xác nhận hồ sơ tại một thời điểm sang theo dõi việc tuân thủ trong quá trình kinh doanh.
Từ giấy tờ sang kiểm soát hành vi trên thị trường
Nếu giảm tiền kiểm ở khâu lưu thông, hậu kiểm phải đủ khả năng phát hiện và xử lý đúng các hành vi gây rủi ro. ĐBQH Phạm Ngọc Lâm đề xuất tăng cường kết nối dữ liệu đăng ký kinh doanh, hóa đơn điện tử và thông tin truy xuất nguồn gốc; đồng thời phân định rõ trách nhiệm của chính quyền địa phương và các lực lượng chức năng.
Trọng tâm quản lý cần tập trung vào thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả, hành vi bán cho người chưa đủ 18 tuổi, bán tại địa điểm bị cấm và các vi phạm khác. Đây là hướng chuyển từ quản lý “đủ giấy tờ” sang quản lý việc tuân thủ pháp luật trong suốt quá trình kinh doanh.

Việc kiểm soát cũng cần đặt đồng thời trên cả thị trường hợp pháp và bất hợp pháp. ĐBQH Phan Thị Mỹ Dung, Đoàn Tây Ninh nêu quan điểm mục tiêu lâu dài khi ban hành Luật là giảm và tiến tới giảm mạnh việc sử dụng thuốc lá; tuy nhiên, đại biểu cũng lưu ý nếu nhu cầu chưa mất đi nhưng nguồn cung hợp pháp bị thu hẹp quá mức, một phần nhu cầu có thể chuyển sang thị trường bất hợp pháp. Theo đại biểu, đây là rủi ro cần được đánh giá khi lựa chọn chính sách, không phải lý do để giảm nhẹ yêu cầu phòng, chống tác hại của thuốc lá.
Vì vậy, hiệu quả sức khỏe không chỉ phụ thuộc vào việc siết chặt khu vực kinh doanh hợp pháp, mà còn vào khả năng kiểm soát thuốc lá lậu, hàng giả và các kênh phân phối ngoài hệ thống tuân thủ. Nguồn lực quản lý cần hướng vào những hành vi rủi ro thay vì dành phần lớn cho hồ sơ của các cơ sở đang hoạt động hợp pháp.
Điều này đồng thời liên quan đến tính nhất quán của chính sách. Theo định hướng tại Nghị quyết số 19/2026/NQ-CP và Nghị quyết số 66.18/2026/NQ-CP của Chính phủ, các yêu cầu cấp giấy phép mua bán, bán thuốc lá đã được đưa vào diện cắt giảm và không thực hiện trong giai đoạn từ ngày 1/7/2026 đến hết ngày 28/2/2027. Vì vậy, quá trình hoàn thiện luật cần tránh để thủ tục hành chính liên quan đến cấp mới, sửa đổi, bổ sung và cấp lại giấy phép phân phối, bán buôn, bán lẻ quay trở lại nếu chưa chứng minh được giá trị quản lý bổ sung. Chính sách ổn định, dễ dự đoán cũng giúp cơ quan quản lý tập trung nguồn lực vào mục tiêu sức khỏe.
Cấm trưng bày cũng cần được nhìn từ mục tiêu thực tế
Trước đề xuất cấm hoàn toàn việc trưng bày sản phẩm thuốc lá tại điểm bán lẻ, ĐBQH Nguyễn Hữu Toàn, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính, bày tỏ băn khoăn: “Cấm không được trưng bày thì vô hình trung cả người mua và người bán đều mù mờ, không biết mình bán cái gì, mua cái gì”.
Theo đại biểu, sản phẩm thuốc lá hợp pháp khi đưa ra thị trường phải công bố tiêu chuẩn chất lượng và có tem, nhãn; nếu cấm trưng bày tuyệt đối, người tiêu dùng có thể thiếu căn cứ để nhận diện, đối chiếu sản phẩm. Ông đề nghị tham khảo kinh nghiệm quốc tế, cân nhắc phạm vi trưng bày phù hợp để vừa hạn chế tính hấp dẫn đối với người mua, vừa duy trì mức độ minh bạch cần thiết trong thương mại.
Bên cạnh đó, trong khi Điều 25 Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá hiện hành cho phép điểm bán lẻ trưng bày tối đa một bao, một tút hoặc một hộp của một nhãn hiệu thuốc lá, dự thảo đang đề xuất cấm trưng bày tại cả cơ sở bán buôn và bán lẻ. Từ mục tiêu hạn chế hình ảnh thuốc lá trước công chúng, phạm vi quy định nên tập trung vào nơi trực tiếp phát sinh sự tiếp xúc với người tiêu dùng. Hoạt động bán buôn thuần túy chủ yếu liên quan đến lưu kho và phân phối giữa các thương nhân, vì vậy cần được cân nhắc loại khỏi phạm vi nếu không trực tiếp tạo ra sự tiếp xúc đó; với cơ sở kinh doanh kết hợp thì cần xác định rõ khu vực chịu sự điều chỉnh.
Ngay cả khi sản phẩm không được trưng bày công khai, người mua trưởng thành vẫn cần thông tin tối thiểu để giao dịch hợp pháp. Việc cho phép niêm yết danh mục tên sản phẩm và giá bán bằng chữ theo mẫu thống nhất, trung tính, không kèm hình ảnh hay yếu tố quảng cáo, có thể giúp phân biệt thông tin giao dịch với hoạt động quảng bá. Phương án chuyển tiếp khoảng 18-24 tháng trên cơ sở đánh giá tác động thực tế cũng có thể được cân nhắc để cơ quan quản lý hoàn thiện hướng dẫn, tập huấn và thử nghiệm tại một số địa bàn trước khi áp dụng đầy đủ.
Từ vấn đề giấy phép đến trưng bày, điểm chung cần lưu ý là công cụ và nguồn lực quản lý cần tập trung đúng vào những khía cạnh thực sự đóng góp vào mục tiêu ban đầu của chính sách.
Theo hướng đó, việc bãi bỏ giấy phép phân phối, bán buôn và bán lẻ cần được xem xét tiếp tục thực hiện, có thể được đặt trong cơ chế quản lý chặt bằng điều kiện kinh doanh, dữ liệu và hậu kiểm; quy định trưng bày cần bám sát điểm bán lẻ, bảo đảm thông tin giao dịch tối thiểu và có lộ trình phù hợp; đồng thời kiểm soát thị trường hợp pháp phải đi cùng xử lý hàng giả, hàng lậu. Một chính sách nhất quán theo các nguyên tắc này sẽ vừa duy trì mục tiêu sức khỏe, vừa tạo khuôn khổ thực thi rõ ràng và có thể dự đoán.

