Bộ trưởng Tài chính nêu căn cứ xác định đất bỏ hoang để đánh thuế
Cơ quan thuế có trách nhiệm thu thuế đối với đất thuộc diện chịu thuế. Tuy nhiên, việc xác định thế nào là đất bỏ hoang phải được quy định trong pháp luật về đất đai, thay vì chỉ dựa vào quy định của pháp luật thuế”, Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh.
Đề nghị không đánh thuế cả phần đất đã sử dụng
Sáng 6/11, Quốc hội thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Luật Thuế thu nhập cá nhân.
Nêu ý kiến, đại biểu Nguyễn Văn Huy (Hưng Yên) đồng tình với việc bổ sung thuế suất 0,2% đối với đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng hoặc chậm đưa vào sử dụng. Đây là giải pháp cần thiết nhằm hạn chế tình trạng đầu cơ, găm giữ đất đai, gây lãng phí nguồn lực xã hội.
Tuy nhiên, ông Huy cho rằng dự thảo cần quy định rõ cách xác định diện tích chịu thuế trong trường hợp một thửa đất có nhiều phần diện tích với tình trạng sử dụng khác nhau.

Đại biểu nêu thực tế có những thửa đất diện tích lớn, trong đó một phần đã được đưa vào sử dụng, phần còn lại chưa sử dụng. Tương tự, một số dự án triển khai theo từng giai đoạn, có hạng mục đã hoàn thành, trong khi những hạng mục khác vẫn đang tiếp tục thực hiện.
Do vậy, nếu chỉ căn cứ tình trạng chung của cả thửa đất hoặc dự án để áp dụng thuế suất 0,2% thì có thể dẫn đến việc đánh thuế cả phần diện tích đã được sử dụng đúng mục đích.
Từ phân tích trên, ông đề nghị bổ sung nguyên tắc chỉ áp dụng thuế suất 0,2% đối với phần diện tích thực tế thuộc trường hợp bỏ hoang, không đưa vào sử dụng hoặc chậm đưa vào sử dụng. Đối với phần diện tích đã đưa vào sử dụng, cần áp dụng mức thuế suất tương ứng theo quy định.
Theo ông Huy, cách tiếp cận này vừa bảo đảm mục tiêu chống lãng phí đất đai, vừa tránh đánh đồng diện tích sử dụng hiệu quả với diện tích bị bỏ hoang.
Cùng mối quan tâm, đại biểu Tô Ái Vang (Cần Thơ) băn khoăn khi dự thảo đang áp dụng chung mức thuế suất 0,2% mà chưa phân biệt nguyên nhân khiến đất không được đưa vào sử dụng.
Theo bà, cần tách biệt trường hợp đất bỏ hoang do nguyên nhân chủ quan, như đầu tư tích trữ, với trường hợp không thể sử dụng do thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu hoặc các nguyên nhân bất khả kháng.
Nếu áp dụng cùng một mức thuế đối với tất cả trường hợp, chính sách có thể chưa bảo đảm sự công bằng, nhất là với những người dân chịu tác động của thiên tai.

Từ đó, đại biểu đề nghị bổ sung quy định ngoại trừ trường hợp đất không thể đưa vào sử dụng do thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu hoặc nguyên nhân bất khả kháng khác, có xác nhận của UBND cấp xã.
Đề cập thực tế tại Đồng bằng sông Cửu Long, đại biểu cho rằng việc áp thuế đối với những diện tích đất phải bỏ trống do tác động của thiên tai có thể tạo thêm gánh nặng cho người dân, nhất là những người không có khả năng tích lũy để tái sản xuất.
Vì vậy, đại biểu kiến nghị Chính phủ xây dựng cơ chế miễn, giảm thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và đất nông nghiệp riêng đối với những địa bàn chịu ảnh hưởng trực tiếp của biến đổi khí hậu tại khu vực này.
"Thuế phải là công cụ điều tiết và nuôi dưỡng nguồn thu, chứ không thể là gánh nặng ảnh hưởng đến sinh kế của người dân trong lúc khó khăn", đại biểu nêu quan điểm.
Đất bỏ hoang sẽ áp dụng thuế
Tiếp thu, giải trình nội dung này, Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn khẳng định việc xác định đất bỏ hoang phải dựa trên quy định pháp luật về đất đai, đồng thời có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan thuế và cơ quan quản lý đất đai để bảo đảm tính chính xác.

Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết, cơ quan thuế có trách nhiệm thu thuế đối với đất thuộc diện chịu thuế. Tuy nhiên, việc xác định thế nào là đất bỏ hoang phải được quy định trong pháp luật về đất đai, thay vì chỉ dựa vào quy định của pháp luật thuế.
"Cơ quan thuế có trách nhiệm thu thuế, đất bỏ hoang sẽ áp dụng thuế. Còn việc xác định thế nào là đất bỏ hoang thì phải định nghĩa trong pháp luật về đất đai", ông nói.
Vẫn theo Bộ trưởng, việc xác định diện tích cụ thể và tình trạng của thửa đất bỏ hoang sẽ được thực hiện trên cơ sở phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan thuế với cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên, đất đai.
Quá trình này sẽ dựa trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai và dữ liệu dân cư đang được đẩy mạnh kết nối.
Theo ông, việc phối hợp phải góp phần tránh tình trạng lạm dụng, trốn thuế, lậu thuế cũng như lạm dụng trong hoạt động thu thuế.
