FDI tăng mạnh: Đừng để áp lực tăng trưởng kéo Việt Nam vào 'cuộc đua xuống đáy'
Với 40,63 tỷ USD vốn FDI đăng ký trong 8 tháng năm 2026, tăng 55,4% so với cùng kỳ, các chuyên gia cho rằng Việt Nam cần chuyển từ tư duy chạy theo số lượng vốn sang lựa chọn những dòng vốn có chất lượng, công nghệ và khả năng liên kết với doanh nghiệp trong nước.
Theo PGS-TS Lê Xuân Bá, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, vốn FDI đăng ký 8 tháng đầu năm nay tăng mạnh, nhưng điều đáng quan tâm hơn là vốn thực hiện. Trong 8 tháng, vốn FDI thực hiện đạt 17,25 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước và cao nhất trong 8 tháng của 5 năm qua.

Số dự án FDI cấp mới từ đầu năm chỉ tăng 9,4%, trong khi vốn đăng ký tăng 96,8%, cho thấy quy mô vốn bình quân mỗi dự án tăng đáng kể.
Theo ông Bá, diễn biến này cho thấy Việt Nam cần chuyển mạnh từ tư duy chủ yếu thu hút vốn sang phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia, lấy chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ, khả năng tham gia chuỗi cung ứng và giá trị gia tăng làm tiêu chí quan trọng.
Nhà đầu tư sử dụng công nghệ cao, phù hợp với nhu cầu chuyển đổi mô hình phát triển của Việt Nam và có cam kết chuyển giao công nghệ nên được ưu tiên. Ngược lại, với những ngành thâm dụng lao động, tài nguyên và năng lượng mà doanh nghiệp trong nước đã có khả năng đảm nhận, Việt Nam cần cân nhắc kỹ việc tiếp nhận thêm dự án.
Áp lực tăng trưởng không nên dẫn tới thu hút FDI bằng mọi giá
Theo PGS-TS Lê Xuân Bá, mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026–2030 đang tạo áp lực lớn cho các địa phương. Một số địa phương được giao chỉ tiêu tăng trưởng GRDP ở mức cao như Hải Phòng và Quảng Ninh 13%, Bắc Ninh 12,5%, Hưng Yên 11,5%, Đà Nẵng 11,22% và Nghệ An 11,02%.
Trong bối cảnh tăng trưởng cần vốn, cả vốn trong nước và FDI, các địa phương có thể đứng trước nguy cơ thu hút đầu tư bằng mọi giá. Tuy nhiên, theo ông Bá, việc lựa chọn dự án cần dựa nhiều hơn vào chất lượng, hiệu quả và đóng góp lâu dài thay vì chỉ nhìn vào quy mô vốn đăng ký.
Nghị quyết 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài định hướng chuyển từ thu hút đầu tư theo địa giới hành chính sang thu hút theo cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Chính sách ưu đãi cũng được định hướng chuyển dần từ hỗ trợ theo đầu vào sang gắn với kết quả thực hiện cam kết, quản trị cả vòng đời dự án và kết nối với doanh nghiệp trong nước.
Ông Bá cho rằng cách tiếp cận này giúp các địa phương vừa đáp ứng yêu cầu tăng trưởng, vừa nâng chất lượng dòng vốn FDI, hạn chế tình trạng cạnh tranh thu hút đầu tư bằng ưu đãi hoặc chấp nhận những dự án có giá trị gia tăng thấp.
Nếu tiếp tục thu hút các dự án chủ yếu gia công, lắp ráp và thâm dụng lao động, giá trị tạo ra tại Việt Nam có thể hạn chế. Về dài hạn, khi lợi thế về nhân công và ưu đãi giảm đi, nhà đầu tư có thể chuyển sang những địa điểm có chi phí cạnh tranh hơn, trong khi doanh nghiệp trong nước chưa đủ năng lực để tham gia sâu vào chuỗi cung ứng.
Nâng năng lực doanh nghiệp và nhân lực để đón công nghệ cao
Một yêu cầu quan trọng khác trong thu hút FDI là chuyển giao công nghệ và tăng liên kết giữa doanh nghiệp nước ngoài với doanh nghiệp trong nước.
Theo ông Bá, Việt Nam khó có thể áp dụng nguyên trạng kinh nghiệm của Trung Quốc trong đàm phán với nhà đầu tư FDI. Trung Quốc có thị trường hơn 1,4 tỷ dân, doanh nghiệp nội địa có quy mô lớn, tiềm lực tài chính mạnh và năng lực khoa học - công nghệ cao, từ đó có vị thế lớn hơn trong việc yêu cầu nhà đầu tư chuyển giao công nghệ và liên kết với doanh nghiệp nội địa.
Trong khi đó, Việt Nam có thị trường hơn 100 triệu dân nhưng quy mô nền kinh tế và năng lực doanh nghiệp vẫn nhỏ hơn đáng kể. Ngay cả khi doanh nghiệp FDI sẵn sàng chuyển giao công nghệ cao, năng lực tiếp nhận của doanh nghiệp và nguồn nhân lực trong nước cũng là một hạn chế.
PGS-TS Lê Xuân Bá cho biết tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ năm nay được đặt mục tiêu khoảng 29,5% lực lượng lao động. Tuy nhiên, đây chưa đồng nghĩa với lực lượng lao động chất lượng cao đủ khả năng tiếp cận và làm chủ công nghệ tiên tiến.
Theo ông, phát triển kinh tế dựa trên khoa học, công nghệ cần một quá trình dài. Việc đào tạo nguồn nhân lực đủ khả năng tiếp nhận và khai thác công nghệ tiên tiến có thể cần 5–7 năm trong điều kiện thuận lợi và 10–15 năm trong điều kiện bình thường.
Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ đặt mục tiêu từng bước tự chủ về công nghệ, nhất là công nghệ chiến lược, đồng thời đến năm 2030 nâng trình độ và năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp lên mức trên trung bình của thế giới.
Theo ông Bá, cùng với việc nâng năng lực tiếp nhận công nghệ, Việt Nam cần kiên định trong lựa chọn dự án FDI, ưu tiên công nghệ cao và những lĩnh vực tạo giá trị gia tăng lớn, đồng thời hạn chế các dự án công nghệ thấp hoặc thâm dụng lao động trong những ngành mà doanh nghiệp trong nước đã có khả năng đảm nhận.