Gia đình ở Việt Nam có 1 Đại tướng, 1 Trung tướng, 1 Đại tá, 6 anh chị em ruột đều là liệt sĩ
Tính cả con dâu, con rể và các cháu, gia đình Đại tướng Đoàn Khuê có 15 người tham gia, cống hiến và phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân.
60 năm gắn bó với quân ngũ
Đại tướng Đoàn Khuê (bí danh Võ Tiến Trình), sinh ngày 29/10/1923, quê ở làng Gia Đẳng, xã Triệu Lăng, huyện Triệu Phong cũ, tỉnh Quảng Trị. Ông là một trong những vị tướng có nhiều đóng góp quan trọng cho sự nghiệp cách mạng và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
Trong 60 năm hoạt động cách mạng (1939-1999), hơn 40 năm trong đó gắn bó với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và thực hiện nghĩa vụ quốc tế, Đại tướng Đoàn Khuê luôn tận tụy, kiên định, hết lòng phụng sự Tổ quốc và nhân dân.
Trải qua nhiều cương vị công tác, từ những năm tháng chiến đấu đến khi đảm nhiệm các trọng trách trong quân đội, ông để lại dấu ấn sâu đậm trong quá trình xây dựng và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Ông tham gia cách mạng từ năm 1939. Ngày 30/10/1940, đồng chí Đoàn Khuê bị thực dân Pháp bắt và kết án tù, giam tại nhà lao Quảng Trị. Sau đó, ông bị đày lên Buôn Ma Thuột.
Gần 5 năm sống trong cảnh tù đày, ông vẫn giữ vững khí tiết, thể hiện ý chí kiên cường trước những đòn tra tấn và sự khắc nghiệt của nhà tù thực dân.
Năm 1945, ngay sau khi được trả tự do, một trong những người đầu tiên ông tìm gặp là mẹ cùng những người thân trong gia đình. Cuộc gặp ấy diễn ra trong bối cảnh đất nước bước vào một chặng đường cách mạng mới, còn gia đình ông tiếp tục có nhiều người dấn thân vào sự nghiệp đấu tranh.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ông từng đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng như Ủy viên Quân sự Ủy ban Quân chính Khu C (địa bàn gồm Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam trước đây); Chính trị viên, Bí thư Đảng ủy Trường Lục quân Quảng Ngãi, Chính trị viên, Bí thư Đảng ủy Tiểu đoàn Hồ Hích tại Quảng Ngãi trong giai đoạn 1946-1947.
Từ năm 1947-1954, ông là Chính trị viên, Bí thư Đảng ủy các Trung đoàn 69, 73, 78, 126 và 84 thuộc Liên khu 5. Sau đó, ông giữ cương vị Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Trung đoàn chủ lực 108, Liên khu 5, rồi đảm nhiệm Phó Chính ủy Sư đoàn 305 - sư đoàn chủ lực đầu tiên ở Nam Trung Bộ.
Bước vào thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đồng chí Đoàn Khuê tiếp tục đảm nhiệm nhiều vị trí chỉ huy, chính trị trong quân đội. Ông từng là Phó Chính ủy Sư đoàn Pháo binh 675; Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Sư đoàn Pháo binh 351 trong giai đoạn 1954-1957. Từ tháng 3/1958-1960, ông giữ chức Chính ủy Lữ đoàn 270 tại khu vực giới tuyến quân sự.
Giai đoạn 1960-1962, ông làm Phó Chính ủy Quân khu 4 và tham gia Quân khu ủy Quân khu 4. Năm 1963, ông được điều động vào chiến trường miền Nam, giữ các cương vị Phó Chính ủy Quân khu 5, Phó Bí thư Quân khu ủy và Ủy viên Thường vụ Khu ủy Khu 5.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, từ tháng 3/1977, ông được giao trọng trách Tư lệnh kiêm Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Quân khu 5. Trên cương vị này, ông tham gia chỉ đạo giải quyết vấn đề FULRO, đồng thời góp phần cùng Quân tình nguyện Việt Nam thực hiện nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia.

Với kinh nghiệm tích lũy qua nhiều chiến trường, từ năm 1983-1986, đồng chí Đoàn Khuê lần lượt giữ các chức vụ Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh 719; Phó Trưởng ban rồi Trưởng ban Lãnh đạo Đoàn Chuyên gia tại Campuchia, đồng thời kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh 719.
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ quốc tế, từ tháng 2/1987-1991, ông giữ chức Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.
Từ tháng 8/1991-1997, đồng chí Đoàn Khuê đảm nhiệm cương vị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đồng thời là Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương.
Năm 1998, Bộ Chính trị phân công ông chỉ đạo công tác bảo vệ chính trị nội bộ và giữ chức Trưởng ban Chỉ đạo công tác tổng kết “Đảng lãnh đạo chiến tranh cách mạng”.
Trong quá trình hoạt động cách mạng, năm 1974, đồng chí Đoàn Khuê lần lượt được thăng quân hàm Thiếu tướng, Trung tướng năm 1980, Thượng tướng năm 1984 và Đại tướng năm 1990.
Ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng các khóa IV, V, VI, VII, VIII; Ủy viên Bộ Chính trị các khóa VI, VII, VIII và là Đại biểu Quốc hội các khóa VII, VIII, IX, X.
Ông qua đời năm 1999. Với những đóng góp trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đại tướng Đoàn Khuê được Đảng, Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý.
Ông được truy tặng Huân chương Sao Vàng năm 2007. Đại tướng còn nhận trao tặng các phần thưởng như Huân chương Hồ Chí Minh, 2 Huân chương Quân công hạng Nhất, 2 Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng...
Gia đình có truyền thống cách mạng, yêu nước
Đại tướng Đoàn Khuê trưởng thành trong một gia đình có truyền thống yêu nước và cách mạng. Cha ông - cụ Đoàn Cầu sớm tham gia hoạt động cách mạng và từng sử dụng chính ngôi nhà của gia đình làm địa điểm tổ chức các cuộc họp bí mật của Xứ ủy Trung Kỳ. Cụ Đoàn Cầu có hai người vợ là bà Nguyễn Thị Dương và bà Nguyễn Thị Lạnh.
Mẹ Đại tướng Đoàn Khuê, bà Nguyễn Thị Dương, là người phụ nữ chịu thương chịu khó, vừa chăm lo gia đình vừa âm thầm đồng hành với sự nghiệp cách mạng của các con. Truyền thống ấy được các thế hệ trong gia đình tiếp nối, để rồi nhiều người đã dành cả cuộc đời cho đất nước.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, gia đình Đại tướng Đoàn Khuê có 6 người hy sinh, là người thân ruột thịt của ông gồm Đoàn Ngọc Anh, Đoàn Định, Đoàn Giao, Đoàn Văn Hà, Đoàn Cư và Đoàn Thị Tùng. Họ đều là liệt sĩ, hy sinh trong những năm tháng chiến tranh ác liệt.
Đặc biệt, khi nhắc đến Mẹ Nguyễn Thị Dương, nhiều người không khỏi xúc động khi biết trong vòng 4 năm, bà mất đi 5 người con thân yêu. Khi ấy, bà đã gần 70 tuổi nhưng thay vì được sống những năm tháng tuổi già bên con cháu, bà lại phải chứng kiến những mất mát lớn do chiến tranh gây ra.
3 người con trai còn lại của bà tiếp tục con đường binh nghiệp và trưởng thành trong quân đội. Đại tướng Đoàn Khuê từng giữ cương vị Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Trung tướng Đoàn Chương là nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược quân sự; Đại tá Đoàn Thúy cũng có nhiều năm công tác trong quân đội.
Với những đóng góp, hy sinh của mình và gia đình cho sự nghiệp cách mạng, bà Nguyễn Thị Dương được Nhà nước tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất và truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng theo Quyết định số 394 KT/CTN ngày 17/12/1994.
Tính cả con dâu, con rể và các cháu, gia đình Đại tướng Đoàn Khuê có 15 người từng tham gia, cống hiến và phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân.

Ngoài mẹ là bà Nguyễn Thị Sương, một người phụ nữ cũng có vị trí đặc biệt trong cuộc đời Đại tướng Đoàn Khuê là bà Trương Thị Sương - vợ ông. Bà Sương theo học Trường Trung học Lương Văn Chánh, tỉnh Phú Yên, nay thuộc tỉnh Đắk Lắk. Bà sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống cách mạng, từng được giao nhiệm vụ làm cơ sở, nuôi giấu bộ đội. Trong thời gian hoạt động tại địa phương, gia đình bà cũng là nơi che chở cho đồng chí Đoàn Khuê, khi đó đang giữ cương vị Chính ủy Trung đoàn 84.
Cuối năm 1950, ông bà tổ chức lễ cưới. Nhưng niềm vui sum họp chưa được bao lâu, chỉ 2 ngày sau ngày cưới, ông Đoàn Khuê nhận lệnh lên đường ra miền Bắc học tập. Phải 2 năm sau, ông mới có dịp trở lại Quảng Ngãi, tiếp tục công tác.
Trong những năm tháng chiến tranh, bà Trương Thị Sương công tác tại Bộ Tư lệnh Quân khu 5. Đến năm 1968, do sức khỏe không đảm bảo, tổ chức bố trí để bà ra miền Bắc. Bà quyết định đi học ngành y với mong muốn trở thành bác sĩ, để sau này có thể trở lại chiến trường miền Nam và tiếp tục cống hiến.
Năm 1974, sau khi tốt nghiệp, bà được phân công công tác tại Ban Quân y, Tổng cục Chính trị.
47 năm chung sống, song hoàn cảnh chiến tranh khiến vợ chồng Đại tướng Đoàn Khuê có rất ít thời gian thực sự được ở bên nhau. Hai người chỉ có khoảng một phần ba quãng đời hôn nhân được gần gũi, phần thời gian còn lại là những năm tháng xa cách, chờ đợi và nỗi nhớ. Đằng sau cuộc đời binh nghiệp của Đại tướng là sự hy sinh thầm lặng của người vợ, khi cả hai cùng gác lại hạnh phúc riêng để dành trọn sức lực cho quê hương, đất nước.
Hiện nay, gia đình Đại tướng Đoàn Khuê có một khu lưu niệm tại Thôn 1, xã Triệu Lăng, huyện Triệu Phong cũ, tỉnh Quảng Trị. Trong khuôn viên rộng khoảng 1.000m2, công trình Khu lưu niệm gia đình Đại tướng được xây dựng từ nguồn hỗ trợ của Bộ Quốc phòng, ngân sách địa phương và các nguồn vận động khác, hướng tới hoàn thành nhân dịp kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Đại tướng.
Hiện nhà lưu niệm trưng bày nhiều tư liệu, hiện vật như bằng Tổ quốc ghi công, huân chương, huy chương, bằng khen, quần áo của cha mẹ và Đại tướng, cùng hình ảnh về gia đình. Đáng chú ý có chiếc nồi gang mẹ Đại tướng từng dùng nấu cơm cho bộ đội, hộp trầu của bà, chiếc va ly từng dùng để đưa các con ra Bắc và bức tranh lớn tái hiện ngôi nhà xưa.
Nơi đây cũng có nhiều kỷ vật, tư liệu về cha mẹ, anh chị em và Đại tướng Đoàn Khuê để trưng bày, qua đó giúp các thế hệ con cháu hiểu hơn về truyền thống của gia đình.
Bài viết tham khảo thông tin tại:
Nhà lưu niệm Đại tướng Đoàn Khuê - nơi hội tụ nghĩa nước, tình nhà - Báo Quân khu 4
Đoàn Khuê: Nhà chiến lược quân sự tài năng, sâu sát thực tiễn - Báo Nhân dân
Hai người phụ nữ đặc biệt trong cuộc đời của Đại tướng Đoàn Khuê - Báo Quân đội nhân dân.