Hoàng thái hậu cuối cùng của phong kiến Việt Nam: Giỏi Hán văn, Pháp văn và Quốc ngữ, lăng mộ xây từ khi còn sống
Đó là bà Hoàng Thị Cúc trở thành vợ vua Khải Định (1916-1925) và là thân mẫu của vua Bảo Đại (1926-1945).
Vua Bảo Đại là vị hoàng đế cuối cùng của triều Nguyễn, đồng thời cũng là vị vua cuối cùng của chế độ quân chủ Việt Nam. Thân mẫu của ông, bà Hoàng Thị Cúc, chính là vị Hoàng thái hậu cuối cùng của triều Nguyễn. Được người dân xứ Huế thành kính gọi là Đức Từ Cung, bà đã sống qua những biến động lớn của lịch sử và là người từng gìn giữ nhiều bảo vật của vương triều Nguyễn cho đến những năm cuối đời.
Hoàng thái hậu Từ Cung tên thật là Hoàng Thị Cúc, sinh năm 1890. Cha của bà là ông Hoàng Văn Tích, người từng đỗ Tú tài và giữ chức Tri huyện Hòa Đa (Bình Định), mẹ là bà La Thị Sơn. Xuất thân trong gia đình cha làm quan nhưng hoàn cảnh riêng của bà thì hết sức hẩm hiu.

Bà Hoàng Thị Cúc trở thành vợ vua Khải Định (1916-1925) và là thân mẫu của vua Bảo Đại (1926-1945). Cuộc đời bà Hoàng Thị Cúc bắt đầu gắn với hoàng gia khi bà được đưa vào cung làm thị nữ. Theo đó, bà gặp Phụng Hóa công Nguyễn Phước Bửu Đảo - con trai trưởng của vua Đồng Khánh, người sau này lên ngôi với niên hiệu Khải Định, trở thành vị hoàng đế thứ 12 của triều Nguyễn, rồi tiến cung.
Vua Khải Định có rất nhiều vợ nhưng Huệ Phi Hoàng Thị Cúc được nhà vua đặc biệt sủng ái. Cuối năm 1925, vua Khải Định qua đời. Khi ấy, con trai bà là Vĩnh Thụy đang du học tại Pháp được triệu hồi về nước để kế vị, lấy niên hiệu Bảo Đại, sau đó trở lại Pháp tiếp tục việc học.
Năm 1932, Bảo Đại hoàn tất việc học và về nước. Ngày 25/3/1933, ông chính thức tôn phong mẹ mình là Đoan Huy Hoàng Thái hậu.
Dù thời thơ ấu không có điều kiện học hành, bà được ghi nhận là người ham học và tự trau dồi kiến thức sau khi vào cung. Có nhiều sử liệu viết rằng bà có thể đọc, viết chữ Hán, chữ Pháp và chữ Quốc ngữ, đồng thời am hiểu các nghi thức tế lễ, cúng kỵ vốn rất phức tạp trong cung đình cũng như tại các lăng, miếu của triều Nguyễn.
Trong thời gian vua Bảo Đại còn trị vì cũng như những năm ông sống ở nước ngoài, phần lớn các công việc tế lễ của hoàng gia đều do bà đứng ra lo liệu. Thậm chí khi bị chính quyền Ngô Đình Diệm ép uổng, khó khăn trong việc duy trì các nghi lễ truyền thống, bà vẫn kiên định bảo vệ các lễ cúng kỵ trong nội đình.
Bà Hoàng Thị Cúc cũng chính là người nỗ lực duy trì đội Ba Vũ, qua đó góp phần bảo tồn một hình thức ca múa cung đình quý giá. Đây là tiền đề để Huế còn lưu giữ được một đoàn ca múa truyền thống có giá trị cho đến ngày nay.

Sau ngày Toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, nhiều đền miếu và lăng tẩm của các vua Nguyễn bị xuống cấp, hư hại. Bà Hoàng Thị Cúc đã đứng ra tổ chức xây dựng lại Thái Miếu, Hưng Miếu và sửa chữa một số di tích khác. Bên cạnh việc gìn giữ di sản cung đình, bà còn có những đóng góp đáng kể đối với Phật giáo ở Huế.
Sau khi vua Bảo Đại từ Pháp trở về nước năm 1932, bà tác động để vua ủng hộ sự phát triển của phong trào Phật giáo. Hội An Nam Phật học được thành lập, vua Bảo Đại nhận chức Hội trưởng danh dự.
Năm 1934, cũng từ sự tác động của bà, vua Bảo Đại ban sắc tứ cho các chùa Tây Thiên, Tường Vân và Trúc Lâm. Đến năm 1935, nhà vua nghe lời mẹ và ông Nguyễn Khoa Tân đến dự lễ Phật Đản tại chùa Diệu Đế, đồng thời cúng 150 đồng bạc Đông Dương để hỗ trợ việc tổ chức đại lễ.
Mùa thu năm 1980, khi lâm bệnh nặng và biết thời gian không còn nhiều, bà cho mời đại diện chính quyền TP. Huế đến để bàn giao toàn bộ tài sản. Bà cho biết mình xuất thân nghèo khó, những gì đang sở hữu đều thuộc về nhà Nguyễn. Nay triều Nguyễn không còn, bà nguyện giao lại cho Nhà nước quản lý.
Ngôi nhà ở Phan Đình Phùng về sau trở thành di tích do Nhà nước quản lý, gắn với dấu ấn của vị Hoàng thái hậu cuối cùng trong lịch sử phong kiến Việt Nam.
Bà qua đời ngày 3/10/1980, thọ 90 tuổi. Phần mộ được an táng gần Tư Lăng (lăng Đồng Khánh), tại làng Dương Xuân. Đáng chú ý, lăng Từ Cung được khởi dựng từ năm 1960, khi Hoàng thái hậu vẫn còn sống.
Lăng nằm về phía Nam lăng Tự Đức, cạnh lăng Đồng Khánh, giữa khu đồi nhiều cây xanh. Không gian nơi đây khá kín đáo nhưng phía trước thoáng rộng, tạo cảm giác vừa tĩnh mịch vừa uy nghi.
Về kiến trúc, lăng có nhiều nét tương đồng với lăng Vạn Vạn và lăng Thánh Cung nhưng quy mô khiêm tốn hơn. Đáng chú ý, vòng la thành phía trong khu huyệt mộ được xây khá thấp.
Ngoài ra, ngôi nhà cũ ở Phan Đình Phùng, Huế cũng là nơi thờ bà.
Hồi tháng 7 vừa qua, TP. Huế cũng cho biết đang lên phương án tu bổ Nhà lưu niệm Hoàng Thái hậu Từ Cung tại số 145 Phan Đình Phùng, phường Thuận Hóa. Công trình hiện xuống cấp rõ rệt. Sau khi lấy ý kiến các đơn vị liên quan, Sở thống nhất lập dự án cấp thiết để kịp thời bảo tồn di tích gắn với cuộc đời của Hoàng Thái hậu Từ Cung, thân mẫu vua Bảo Đại.
Đây là nơi bà sinh sống từ năm 1955 đến khi qua đời năm 1980. Công trình được xây dựng từ thời Pháp, gồm hai tầng, mang phong cách kiến trúc kết hợp Đông - Tây. Khuôn viên có nhà chính, nhà phụ, sân vườn và hòn non bộ.
Sau khi bà qua đời, ngôi nhà cùng nhiều hiện vật được bàn giao cho Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế quản lý. Công trình từng được chỉnh trang, khai thác kết hợp trải nghiệm ẩm thực nhưng hoạt động không duy trì lâu dài. Nhiều năm sau đó, nhà lưu niệm bị bỏ trống, trở nên hoang hóa và có nguy cơ ảnh hưởng kết cấu khi mưa bão.
Với những đóng góp dành cho triều Nguyễn, Phật giáo miền Trung và quê hương Mỹ Lợi, bà được hậu thế tôn kính với danh xưng Từ Cung, hay Đức Từ.
Bài viết có tham khảo thông tin tại:
Chuyện Đức Từ Cung - thân mẫu vua Bảo Đại cất giữ những bảo vật vương triều Nguyễn - Báo Thanh niên
Cuộc đời thăng trầm của Đức Từ Cung - Hoàng thái hậu cuối cùng của triều Nguyễn - Báo Thanh niên
Huế chuẩn bị hồi sinh Nhà lưu niệm Hoàng Thái hậu Từ Cung - Báo Văn hóa.