Ngân hàng Nhà nước thúc giảm lãi suất, nhưng có một bài toán không dễ giải
NHNN yêu cầu giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ tăng trưởng, nhưng tín dụng tăng nhanh hơn huy động đang tạo áp lực lên thanh khoản và chi phí vốn ngân hàng.
NHNN yêu cầu giảm thực chất lãi suất cho vay
Tại cuộc làm việc với Ngân hàng Nhà nước và hệ thống các tổ chức tín dụng ngày 13/8/2026, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu ngành ngân hàng ổn định mặt bằng lãi suất, giảm thực chất lãi suất cho vay và đưa tín dụng vào đúng lĩnh vực, phục vụ tăng trưởng kinh tế.
NHNN được yêu cầu duy trì các mức lãi suất điều hành, tăng cường cung ứng thanh khoản cho thị trường, qua đó hỗ trợ các tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn với chi phí thấp. Cùng với đó, cơ quan này được yêu cầu điều hành tỷ giá linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường và phối hợp đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ.
Về tín dụng, tăng trưởng năm 2026 được yêu cầu bám sát mục tiêu nhưng không coi là "trần cứng" trong mọi thời điểm. Việc điều hành cần linh hoạt theo diễn biến thực tế, bảo đảm vốn đến đúng lĩnh vực, đúng thời điểm, đúng đối tượng và với chi phí hợp lý.
Các tổ chức tín dụng được yêu cầu tiếp tục tiết giảm chi phí, ổn định mặt bằng lãi suất và giảm thực chất lãi suất cho vay.

Tín dụng tăng nhanh hơn huy động
Trong quá trình thực hiện yêu cầu giảm lãi suất, hệ thống ngân hàng đang chịu áp lực từ nhu cầu vốn tăng cao.
Theo số liệu được các chuyên gia dẫn tại các cuộc thảo luận về chính sách tiền tệ, tính đến cuối tháng 7/2026, tăng trưởng tín dụng đạt gần 9%, trong khi huy động vốn tăng 5,75%.
Một số liệu khác từ Yuanta Research cho thấy trong 6 tháng đầu năm, tín dụng của 27 ngân hàng tăng 9,2%, trong khi tiền gửi tăng 6,7%. Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tiền gửi tăng lên 114% trong quý II/2026, từ mức 108% cùng kỳ năm trước.
Khoảng cách giữa tốc độ tăng tín dụng và huy động khiến các ngân hàng phải tìm thêm nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu giải ngân. Từ đầu năm 2026, VPBank, Techcombank, HDBank và ACB đã vay hợp vốn quốc tế với tổng giá trị khoảng 3,4 tỷ USD.
Theo Yuanta, chi phí vay USD của các khoản vay này được ước tính khoảng 5,0%-5,3%, chưa bao gồm chi phí phòng ngừa rủi ro tỷ giá và phí thu xếp.
Áp lực thanh khoản cũng tác động đến chi phí vốn của các ngân hàng.
Trong quý II/2026, chi phí vốn của các ngân hàng tăng 105 điểm cơ bản so với cùng kỳ, lên 4,79%. Lợi suất tài sản tăng 92 điểm cơ bản, lên 7,70%. Biên lãi ròng đạt 3,15%, tăng 16 điểm cơ bản so với quý trước nhưng giảm 10 điểm cơ bản so với cùng kỳ.
Theo Yuanta Research, NIM cải thiện chủ yếu nhờ các ngân hàng tái định giá khoản vay và tăng tỷ trọng cho vay dài hạn, thay vì đến từ việc chi phí vốn giảm.
Trong khi đó, tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn, thường được gọi là CASA, giảm xuống 20,9%. Việc huy động vốn trong bối cảnh lãi suất cao cũng đặt ra yêu cầu cân đối giữa chi phí đầu vào và mặt bằng lãi suất cho vay.
Bên cạnh chi phí vốn, nợ xấu cũng là yếu tố ảnh hưởng đến khả năng giảm lãi suất. Theo số liệu được cung cấp, tổng nợ xấu của hệ thống ngân hàng hiện khoảng 300.000 tỷ đồng, tăng 17% so với cuối năm 2025. Tỷ lệ nợ xấu bình quân toàn ngành ở mức trên 2%, trong khi nợ nhóm 2 và nhóm 5 có xu hướng gia tăng.
Các ngân hàng triển khai gói tín dụng ưu đãi
Sau yêu cầu giảm lãi suất, một số ngân hàng đã triển khai các chương trình tín dụng với mức lãi suất thấp hơn thông thường.
Agribank triển khai gói tín dụng 70.000 tỷ đồng, với lãi suất thấp hơn 1%-2%/năm so với mức cho vay bình quân cùng kỳ hạn, dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh thuộc các lĩnh vực ưu tiên.
Vietcombank triển khai gói tín dụng 50.000 tỷ đồng với lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức cho vay bình quân cùng kỳ hạn. VietinBank cũng triển khai gói tín dụng 50.000 tỷ đồng, với lãi suất thấp hơn 1%/năm so với mức cho vay thông thường.
Các chương trình tập trung vào những lĩnh vực như sản xuất, nông nghiệp, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao, xuất khẩu, kinh tế số, doanh nghiệp nhỏ và vừa cùng các lĩnh vực ưu tiên khác.
Trong bối cảnh nhu cầu vốn của nền kinh tế tiếp tục ở mức cao, bài toán đặt ra với hệ thống ngân hàng là vừa đáp ứng yêu cầu giảm lãi suất cho vay, vừa bảo đảm nguồn vốn, kiểm soát chi phí huy động và duy trì an toàn hoạt động.
NHNN đồng thời được yêu cầu thường xuyên đánh giá "điểm cân bằng" giữa kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng, từ đó điều chỉnh lãi suất, tỷ giá, cung tiền, thanh khoản và tín dụng theo các kịch bản cụ thể.