Nhận diện động lực mới có thể giúp Việt Nam tăng thêm 3,7 điểm % GDP mỗi năm
Các động lực mới từ khoa học công nghệ, chuyển đổi số, cải cách thể chế đến liên kết vùng, chuyển đổi xanh và khơi thông nguồn lực được kỳ vọng giúp GDP Việt Nam tăng thêm khoảng 2,8-3,7 điểm phần trăm mỗi năm.
Từ tăng trưởng dựa vào đầu vào sang năng suất
Tại Hội thảo “Xác lập mô hình tăng trưởng mới gắn với mục tiêu tăng trưởng hai con số, đổi mới mô hình phát triển kinh tế dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ở Việt Nam giai đoạn 2026-2030” do Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (NIEF), Bộ Tài chính tổ chức ngày 8/9, ông Nguyễn Quốc Anh, Phó Viện trưởng NIEF, cho rằng giai đoạn 2021-2025, kinh tế duy trì ổn định vĩ mô nhưng những hạn chế của mô hình tăng trưởng ngày càng rõ.
Tăng trưởng vẫn phụ thuộc đáng kể vào vốn, tài nguyên và lao động, trong khi hiệu quả phân bổ, sử dụng nguồn lực chưa cao. Đóng góp của năng suất, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa tương xứng với tiềm năng.
Theo ông Nguyễn Quốc Anh, dư địa của các động lực truyền thống đang thu hẹp, trong khi cạnh tranh quốc tế ngày càng dựa vào công nghệ, năng suất, chất lượng nhân lực và khả năng tham gia các chuỗi giá trị có giá trị gia tăng cao.
Vì vậy, mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ là câu chuyện về tốc độ. Quan trọng hơn, Việt Nam phải thay đổi cách thức tạo ra tăng trưởng, chuyển dần từ gia tăng đầu vào sang nâng năng suất, ứng dụng công nghệ, đổi mới sáng tạo và sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn.
Số liệu được bà Lê Thị Mai Liên, Trưởng ban Kinh tế vĩ mô và Dự báo, NIEF, trình bày cho thấy đóng góp của TFP vào tăng trưởng giai đoạn 2021-2025 đạt khoảng 47%, vượt mục tiêu 45%.
Năng suất nhân tố tổng hợp – TFP còn được hiểu là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất nhờ vào tác động của yếu tố vô hình tham gia vào quá trình sản xuất, cùng các yếu tố hữu hình (vốn, lao động hoặc tài nguyên thiên nhiên…).
Tuy nhiên, năng suất lao động chỉ tăng bình quân 5,2%/năm, thấp hơn mục tiêu trên 6,5%.
Trong khi đó, kinh tế số mới chiếm 14,02% GDP và hệ số ICOR ở mức 6,43 - cho thấy nền kinh tế vẫn cần lượng vốn lớn để tạo ra một đơn vị tăng trưởng.
Bà Liên đánh giá giai đoạn 2021-2025 chủ yếu nâng cấp cơ cấu theo chiều rộng. Giai đoạn 2026-2030 cần chuyển sang chiều sâu, đưa nguồn lực vào các ngành có năng suất, công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn.

Kỳ vọng tạo thêm 2,8-3,7 điểm % tăng trưởng
Một trong những thay đổi lớn của mô hình tăng trưởng mới là quan niệm về vốn. Mục tiêu giai đoạn 2026-2030 đặt ra tỷ lệ đầu tư toàn xã hội khoảng 40% GDP, nhưng đồng thời kéo ICOR từ mức 6,43 xuống khoảng 4-4,6 lần.
Theo định hướng được đưa ra tại hội thảo, Việt Nam cần chuyển từ mô hình dựa vào vốn, lao động giá rẻ, gia công và tài nguyên sang mô hình dựa nhiều hơn vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu và năng suất lao động.
Đến năm 2030, mục tiêu đặt ra là kinh tế số đạt 30% GDP, công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 28% GDP, năng suất lao động tăng khoảng 8,5%/năm và đóng góp của TFP vượt 55%.
Trong khi tốc độ tăng của vốn và lao động là có hạn, thì TFP có thể là yếu tố không bị giới hạn thúc đẩy tăng trưởng. Tăng TFP có thể phản ánh mức độ đổi mới các quá trình sản xuất, ứng dụng công nghệ, kĩ thuật mới trong quản lí hoặc cũng có thể phản ánh gia tăng hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nền kinh tế.
Để hình thành các động lực mới, bà Lê Thị Mai Liên đề xuất một loạt công cụ chính sách. Trong đó có Quỹ đầu tư phát triển công nghệ chiến lược với Nhà nước đóng vai trò vốn mồi và chia sẻ rủi ro; thúc đẩy mua sắm công đổi mới sáng tạo để Nhà nước trở thành khách hàng đầu tiên của sản phẩm công nghệ trong nước; đồng thời xây dựng cơ chế sandbox và chấp nhận rủi ro trong hoạt động R&D.
Cùng với đó là phát triển doanh nghiệp quy mô lớn, xây dựng thị trường dữ liệu quốc gia và chương trình quốc gia về AI hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Theo tính toán được trình bày tại hội thảo, nhóm động lực tăng trưởng mới có thể giúp GDP tăng thêm khoảng 2,8-3,7 điểm phần trăm mỗi năm.
Trong đó, khoa học công nghệ và chuyển đổi số có thể đóng góp thêm 0,8-1,2 điểm phần trăm; cải cách thể chế 0,3-0,7 điểm phần trăm; thúc đẩy các đầu tàu và liên kết vùng 0,5-0,8 điểm phần trăm; chuyển đổi xanh 0,2-0,3 điểm phần trăm; xử lý các dự án tồn đọng, khơi thông nguồn lực 0,3-0,7 điểm phần trăm.
Đây được xem là dư địa quan trọng trong bối cảnh các động lực truyền thống dần bộc lộ giới hạn.
Tái cấu trúc dòng vốn để tạo năng suất
Ông Nguyễn Quốc Anh nhấn mạnh cơ cấu lại đầu tư, hệ thống tài chính và doanh nghiệp phải trở thành trọng tâm của quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng.
Trong đó, khu vực tư nhân cần được phát huy mạnh hơn; chất lượng dòng vốn FDI phải được nâng lên và liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước cần được cải thiện.
Với thị trường tài chính, yêu cầu không chỉ là cung cấp thêm vốn cho nền kinh tế mà còn phải nâng hiệu quả dẫn vốn tới hạ tầng, công nghệ, đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp tư nhân và những lĩnh vực có khả năng tạo năng suất cao.
Như vậy, để tiến tới tăng trưởng hai con số, Việt Nam không thể chỉ dựa vào việc mở rộng quy mô đầu tư. Trọng tâm của giai đoạn 2026-2030 là đổi cách tạo ra tăng trưởng: ít phụ thuộc hơn vào vốn và lao động, đồng thời dựa nhiều hơn vào năng suất, công nghệ, đổi mới sáng tạo và hiệu quả sử dụng nguồn lực.
