Vĩ mô

Những quốc gia nào có lạm phát cao nhất thế giới: Cuộc sống người dân ra sao khi đồng tiền mất giá?

Mai Anh • 20/10/2026 - 11:35

Lạm phát tại nhiều quốc gia tăng phi mã, có nơi gần 400%, khiến đồng tiền mất giá, sức mua lao dốc và cuộc sống người dân đối mặt nhiều khó khăn.

tp.-ho-chi-minh-chu-dong-dieu-hanh-gia-kiem-soat-lam-phat (1)
Những quốc gia nào có lạm phát cao nhất thế giới năm 2026: Cuộc sống người dân ra sao khi đồng tiền mất giá?

Bức tranh kinh tế toàn cầu năm 2026 tiếp tục ghi nhận lạm phát cao tại nhiều quốc gia. Tỷ lệ lạm phát ở Venezuela đạt hơn 400%, Sudan 75,1%, Iran 68,9%, Argentina khoảng 32,6% và Thổ Nhĩ Kỳ 30,9%, trong khi mức trung bình toàn cầu là 4,7%.

Phân tích nguyên nhân trong talkshow "Vì sao nhiều quốc gia để lạm phát tăng "điên cuồng", đồng tiền mất giá thê thảm?" do VTC News thực hiện, TS. Bùi Ngọc Sơn, nguyên Trưởng phòng Kinh tế quốc tế thuộc Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới, cho rằng dù bối cảnh mỗi nước khác nhau, lạm phát cao thường bắt nguồn từ bất ổn chính trị, xung đột địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng hoặc sai lầm trong quản trị kinh tế.

Tại những quốc gia như Sudan hay Zimbabwe, chi phí chiến tranh và chi tiêu chính phủ thiếu kiểm soát, trong khi sản xuất đình trệ và nguồn thu thuế suy giảm, khiến thâm hụt ngân sách trầm trọng. Các nền kinh tế phụ thuộc vào tài nguyên như Venezuela, Argentina hay Iran cũng dễ rơi vào khủng hoảng khi giá dầu giảm hoặc chịu cấm vận.

Khi nguồn thu ngân sách cạn kiệt, khó vay vốn và không thể tăng thu thuế, chính phủ có thể sử dụng biện pháp in tiền để tài trợ chi tiêu. Theo TS. Bùi Ngọc Sơn, nếu lượng hàng hóa không đổi nhưng lượng tiền tăng lên, giá cả sẽ tăng tương ứng.

Ông lấy ví dụ, khi nền kinh tế có 10.000 đồng để mua hai chiếc cốc, mỗi chiếc có giá 5.000 đồng. Nếu lượng tiền tăng lên 12.000 đồng hoặc 20.000 đồng trong khi số cốc vẫn giữ nguyên, giá mỗi chiếc sẽ tăng tương ứng lên 6.000 đồng và 10.000 đồng, tức tăng 20% và 100%.

Tại Iran, lệnh cấm vận của Mỹ khiến xuất khẩu dầu thô giảm từ hơn 3 triệu xuống khoảng 250.000 thùng/ngày, làm cạn nguồn thu ngoại tệ để nhập khẩu hàng thiết yếu. Chính phủ phải in tiền, đẩy lạm phát lên 66% vào tháng 7/2026. Đồng tiền mất giá khiến sức mua suy giảm, người dân mất niềm tin và quay lại trao đổi hàng hóa trực tiếp.

4828_main-plasma-inflation-watch-countries-losing-purchasing-power_cgqm.jpg
Đồ thị thông tin dưới đây, được thực hiện bởi Visual Capitalist và Plasma, thống kê những quốc gia có tỷ lệ lạm phát cao nhất và giá trị thực tế của 100 USD vào cuối năm 2025.

Những bài học đắt giá về lạm phát từ lịch sử

Theo TS. Bùi Ngọc Sơn, lịch sử kinh tế thế giới cho thấy lạm phát và sự mất giá đồng tiền có thể gây ra những hệ lụy sâu rộng sau chiến tranh hoặc các cú sốc kinh tế.

Thiết kế chưa có tên (14)
TS. Bùi Ngọc Sơn, nguyên Trưởng phòng Kinh tế quốc tế thuộc Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới phân tích về lạm phát giữa các quốc gia.

Trong giai đoạn nội chiến Trung Quốc 1948-1949, chính quyền Tưởng Giới Thạch liên tục phát hành Kim Viên phiếu để giải quyết khó khăn tài chính, đẩy lạm phát vượt 2.000%. Dù tìm cách buộc người dân nộp vàng bạc để đổi lấy tiền mới có cam kết bản vị vàng, chính quyền vẫn tiếp tục in tiền bù thâm hụt, khiến đồng tiền mất giá nghiêm trọng.

Các thương xá và tiệm buôn từ chối nhận tiền giấy, chuyển sang trả lương bằng gạo và giao dịch bằng vàng miếng, bạc xu hoặc ngoại tệ như USD, đô la Hồng Kông. Những biện pháp cưỡng chế dưới thời Tưởng Kinh Quốc tại Thượng Hải cũng không ngăn được làn sóng phản ứng của dân chúng.

Brazil cũng từng trải qua lạm phát khoảng 2.000% mỗi năm do cơ chế tự động điều chỉnh tiền lương theo lạm phát từ thập niên 1980 đến năm 1993, tạo thành vòng xoáy giá cả.

Năm 1994, nước này sử dụng đồng tiền quy ước URV làm đơn vị tính giá trong giai đoạn chuyển tiếp, trước khi đưa đồng Real vào lưu hành ngày 1/7/1994. Biện pháp này nhằm giảm tình trạng siêu lạm phát và ổn định kỳ vọng giá cả.

TS. Bùi Ngọc Sơn đánh giá, muốn ổn định thị trường, cần kiểm soát tâm lý lo ngại giá cả tiếp tục tăng của người dân và doanh nghiệp.

Tại Nga, sau khi Liên Xô tan rã, việc tự do hóa giá cả năm 1992 đi kèm đợt lạm phát tăng mạnh lên 2.500%, làm suy giảm giá trị tiền tiết kiệm của người dân. Quá trình tư nhân hóa bằng voucher và chương trình đổi nợ lấy cổ phần dưới thời Tổng thống Boris Yeltsin diễn ra theo những cơ chế khác nhau, góp phần làm thay đổi cơ cấu sở hữu tài sản quốc gia và hình thành tầng lớp tài phiệt.

Tại Hàn Quốc, giai đoạn 1950–1953, lạm phát tại Hàn Quốc vượt 500%/năm do chính phủ in tiền để chi trả chi phí quân sự. Theo TS. Bùi Ngọc Sơn, năm 1953, Tổng thống Lý Thừa Vãn thực hiện đổi tiền theo tỷ lệ 100 won cũ đổi 1 hwan mới, đồng thời giới hạn lượng tiền mặt người dân được giữ và yêu cầu nộp phần vượt mức để nhà nước kiểm soát.

Chính quyền sau đó tiếp tục xem xét, truy thu thuế và huy động nguồn tiền còn lại phục vụ phát triển quốc gia. Theo ông Sơn, biện pháp này nhằm thu hẹp lượng tiền lưu thông để kiềm chế lạm phát, nhưng cũng làm ảnh hưởng đến tài sản của người dân và gia tăng bất mãn. Năm 1960, sau cuộc bầu cử gây tranh cãi và làn sóng biểu tình, ông Lý Thừa Vãn phải từ chức và rời Hàn Quốc.

Theo ông Sơn, đây là những bài học cho thấy khi đồng tiền mất giá trị, có thể làm suy yếu niềm tin của người dân.

Trong bối cảnh hiện nay, chính sách tiền tệ toàn cầu chịu ảnh hưởng lớn từ Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), với mục tiêu kiểm soát lạm phát dài hạn ở mức 2%.

TS. Bùi Ngọc Sơn cho biết Fed điều hành thông qua lãi suất quỹ liên bang qua đêm và nghiệp vụ thị trường mở, bao gồm mua bán trái phiếu. Khi Fed nâng lãi suất mục tiêu, chi phí vốn tăng, qua đó hạn chế đầu cơ và góp phần hạ nhiệt lạm phát.

Lịch sử ghi nhận năm 1979, Chủ tịch Fed Paul Volcker nâng lãi suất lên mức kỷ lục 20%, chấp nhận suy thoái sâu và tỷ lệ thất nghiệp lên 10,8% để kiểm soát lạm phát.

Hiện nay, áp lực từ giá năng lượng và đầu tư vào trí tuệ nhân tạo (AI) khiến lạm phát Mỹ duy trì ở mức 3,2%. Theo TS. Bùi Ngọc Sơn, kỷ nguyên tiền rẻ sau khủng hoảng tài chính năm 2008 và đại dịch Covid-19 đã chấm dứt. Mặt bằng lãi suất trung bình 3-3,5% hoặc 4-5% có thể trở thành trạng thái bình thường mới trong 5-10 năm tới.

Lãi suất cao giúp đồng USD mạnh lên, hút dòng vốn toàn cầu trở về Mỹ và làm gia tăng sự phân hóa giữa các nền kinh tế. Các nền kinh tế phát triển thuộc OECD như Mỹ, với mức tăng trưởng 2,5%, cùng EU, Nhật Bản và Hàn Quốc vẫn có khả năng chống chịu nhờ nền tảng kinh tế và các chính sách thu hút công nghệ, vốn, việc làm trở về nước.

Ngược lại, Trung Quốc chịu sức ép từ việc nguồn vốn và công nghệ nước ngoài rút bớt, cùng tình trạng dư thừa công suất do chính sách hỗ trợ phía cung. Dư thừa xe điện, pin mặt trời và thị trường bất động sản đóng băng buộc doanh nghiệp hạ giá để duy trì hoạt động. Chỉ số CPI tháng 8/2026 của Trung Quốc tăng 0,8%, làm dấy lên nguy cơ giảm phát kéo dài tương tự Nhật Bản sau năm 1991.

Việt Nam đối mặt bài toán cân bằng lãi suất và lạm phát

Nhìn lại Việt Nam, TS. Bùi Ngọc Sơn nhắc đến đợt siêu lạm phát năm 1986, lên tới 774,7%, sau cuộc tổng điều chỉnh giá - lương - tiền năm 1985.

Trong cơ chế bao cấp, hàng hóa do Nhà nước định giá và phân phối khan hiếm. Người dân, cán bộ phải bốc thăm nhận những mặt hàng như lốp xe rồi mang ra chợ bán lấy tiền. Trong khi đó, kỳ vọng giá tiếp tục tăng, tình trạng ngăn sông cấm chợ giữa các địa phương và việc in tiền để bù thâm hụt ngân sách khiến khủng hoảng thêm trầm trọng. Giá cả trên thị trường thường tăng trước khi tiền lương được điều chỉnh.

Theo ông Sơn, bước ngoặt đến từ công cuộc Đổi mới năm 1986, với việc từng bước xóa bỏ cơ chế tập trung bao cấp, bỏ chính sách hai giá, chấm dứt in tiền để tài trợ chi tiêu chính phủ, nâng lãi suất ngân hàng và tạo điều kiện cho khu vực tư nhân tham gia sản xuất, lưu thông hàng hóa.

Tại Việt Nam, CPI bình quân 8 tháng đầu năm 2026 tăng 4,45% so với cùng kỳ, riêng tháng 8 tăng 4,89%, tiệm cận mục tiêu kiểm soát lạm phát khoảng 4,5%. Áp lực chủ yếu đến từ giá nhiên liệu và thực phẩm.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đứng trước bài toán vừa duy trì lãi suất cho vay hợp lý để hỗ trợ doanh nghiệp, vừa điều chỉnh lãi suất huy động nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá và hạn chế nợ xấu.

TS. Bùi Ngọc Sơn kiến nghị duy trì kỷ luật lãi suất thị trường để chống lạm phát, đồng thời sử dụng công cụ kỹ thuật để phân luồng tín dụng có mục tiêu. Nguồn vốn cần ưu tiên cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, khu vực tạo nhiều việc làm, có vòng quay vốn nhanh, cùng các dự án hạ tầng trọng điểm.

Với thị trường vàng, TS. Bùi Ngọc Sơn nhận định giá vàng thế giới khó tăng bùng nổ khi lãi suất cao, nhưng cũng khó giảm sâu do nhu cầu tích trữ của các ngân hàng trung ương. Chênh lệch giá vàng SJC trong nước hạ nhiệt thời gian qua, theo ông, chủ yếu nhờ các biện pháp quản lý hành chính nhằm ngăn chặn thao túng, chứ không hoàn toàn do can thiệp tiền tệ.

Đối với bất động sản, ông cho rằng giá nhà đất tăng xa CPI và thu nhập của phần lớn người dân xuất phát từ hoạt động đầu cơ tích tụ trong nhiều năm. Để ổn định thị trường, TS. Bùi Ngọc Sơn đề xuất 5 giải pháp: áp thuế sở hữu bất động sản; đánh giá rủi ro cao đối với vốn đầu cơ; cấm bán nhà trên giấy trước khi xây dựng; yêu cầu hoàn thiện hạ tầng, dịch vụ trước khi phát triển khu đô thị; tập trung phát triển quỹ đất cho nhà ở xã hội và nhà cho thuê giá rẻ.

Với doanh nghiệp sản xuất, chi phí vận tải logistics tăng 5,38% cùng hiện tượng “lạm phát thu nhỏ”, tức giảm trọng lượng hoặc khẩu phần thay vì tăng giá niêm yết, đang tạo thêm sức ép. Ông Sơn khuyến nghị doanh nghiệp chuyển sang chiến lược phòng thủ, tái cấu trúc quy trình và cắt bỏ những mảng kinh doanh ngoài lĩnh vực cốt lõi.

Đối với người dân, ông khuyên thắt chặt chi tiêu, tập trung vào hàng hóa thiết yếu và chủ động phân bổ tài sản để phòng ngừa rủi ro. Theo khuyến nghị của ông, khoảng 50% tiền tích lũy có thể dành cho vàng, phần còn lại gửi tiết kiệm hoặc đầu tư vào các kênh tạo dòng tiền thực tế nhằm bảo vệ thành quả lao động trước biến động lạm phát.

Theo Kiến thức đầu tư
https://dautu.kinhtechungkhoan.vn/nhung-quoc-gia-nao-co-lam-phat-cao-nhat-the-gioi-cuoc-song-nguoi-dan-ra-sao-khi-dong-tien-mat-gia-1471343.html
Đừng bỏ lỡ
    Đặc sắc
    Nổi bật Người quan sát
    Đọc tiếp
    Những quốc gia nào có lạm phát cao nhất thế giới: Cuộc sống người dân ra sao khi đồng tiền mất giá?
    POWERED BY ONECMS & INTECH